Sunday, July 18, 2021

Kinh Tế Dễ Hiểu: thị trường và rủi ro đạo đức (Chương 11)

Đạo đức của thị trường không phải kinh doanh lương thiện mà chính ở chổ đầu tư khôn ngoan và chính chắn sẽ được thị trường tưởng thưởng, bằng ngược lại liều lỉnh hay lảng phí sẽ bị đào thải. Bàn tay vô hình thường xuyên tẩy sạch các sai lầm thì thị trường mới sinh hoạt tự do và lành mạnh.

Sách báo kinh tế Hoa Kỳ lại nhắc đến “moral hazard” hay là rủi ro đạo đức. Giống như cháu hư tại bà tức có can thiệp từ bên ngoài - thường là do bàn tay hữu hình của nhà nước – dung dưỡng bao che khiến thị trường trở nên ỷ lại không cải sửa thói hư tật xấu. Thị trường không tự sửa sai sẽ có ngày vấp ngã giết chết nền kinh tế.

1.      Rủi ro đạo đức toàn cầu

Tính ỷ lại của thị trường trông cậy được chính quyền nuông chiều hay bao che không chỉ giới hạn trong tư bản nhà nước kiểu Trung Quốc và Việt Nam mà cả ở nền dân chủ tư bản của Hoa Kỳ, nay lan rộng ra nhiều nước theo sự ra đời của IMF và trào lưu toàn cầu hoá. Một nghiên cứu[1] cho thấy nhịp độ vỡ nợ của các nước đang phát triển tăng nhanh kể từ ngày cầu cứu được với IMF nhất là trong hoàn cảnh IMF bị bắt bí e sợ khủng hoảng sẽ lây lan từ một nước sang cả khu vực hay toàn cầu. Điều này cũng giống như con hư về nhà vòi vĩnh đòi tiền vì biết cha mẹ không thể từ con!

Một câu chuyên rủi ro đạo đức toàn cầu khác hơi dài như sau:

·         Vào năm 2013 NHTƯ (Ngân Hàng Trung Ương) Hoa Kỳ dự định giảm bớt lượng tiền bơm vào thị trường nhằm ngăn ngừa lạm phát ở Mỹ. NHTƯ trước đó bơm tiền và hạ phân lời để thúc đẩy tăng trưởng sau trận Đại Suy Thoái 2007-08.

·         Lãi xuất ở Mỹ thấp nên giới đầu tư cho những nước đang mở mang vay mượn với phân lời cao.

·         NHTƯ Hoa Kỳ cho biết sẽ giảm lượng tiền lưu hành khiến USD tăng giá và lãi xuất ở Mỹ lên cao.

·         USD theo đó rút ngược chạy về Mỹ làm nhiều nước đang vay mượn chới với do USD tăng giá nên không đủ USD trả nợ.

·         NHTƯ Hoa Kỳ e sợ các nước đang phát triển vỡ nợ sinh ra khủng hoảng toàn cầu nên phải ngừng cắt giảm lượng tiền lưu hành nhằm tái ổn định thị trường tài chánh thế giới.

·         Ngược lại giới đầu tư nhanh chóng rút ra bài học NHTƯ Mỹ “nhát tay” (cold feet) không dám tăng phân lời.

·         Giới đầu tư từ đó ỷ lại được NHTƯ Mỹ bao che.

·         Trái lại NHTƯ Hoa Kỳ bị giới chính trị và quần chúng Mỹ từ tả sang hữu lên án không lo cho nước Mỹ trước tiên mà bao đồng gánh vác việc thiên hạ toàn cầu[2].

·         Câu chuyện này có tên gọi rất hay “taper tantrum”, tức con nít (thị trường) được cha mẹ nuông chiều cho kẹo bánh (lãi xuất thấp), đến khi cha mẹ ép bớt (taper) ăn ngọt (tăng lãi xuất) làm nư dẫy nẩy (tantrum) nín thở mặt mày tím bầm khiến cha mẹ lạnh cẳng (cold feet) chịu thua!

2.      Rủi ro đạo đức ở Mỹ

Giá nhà và chứng khoáng ở Mỹ tăng liên tục từ năm 2009 cho đến nay nhờ vào chính sách tiền rẻ (easy money) của NHTƯ bơm tiền[3] và giảm lãi xuất. Nhà và chứng khoáng chiếm toàn bộ tài sản của giới trung lưu thành thị[4] cho nên NHTƯ không dám giảm lượng tiền lưu hành do sợ hai bong bóng địa ốc và cổ phiếu nổ tung! Điều này cũng giống như con bệnh ngặc nghèo (Đại Khủng Hoảng 2007-08) được bác sĩ (NHTƯ) bơm thuốc kích thích (bơm tiền và lãi xuất thấp), nay đâm ra ghiền thuốc phiện (moral hazard) mà bác sĩ (NHTƯ) nhát tay (cold feet) không dám giảm liều thuốc độc!

Dân chúng Mỹ trước đây gởi tiết kiệm vào ngân hàng. Do lãi xuất gần âm nên tiền gởi ngân hàng bị lỗ, dân chúng[5] phải đầu tư chứng khoáng cho dù tăng rủi ro. Nhiều người bơm tiền vào cổ phiếu khiến giá chứng khoáng tăng vọt, đầu tư (investment) trở thành đầu cơ (speculation.) Nay NHTƯ chỉ dọa tăng lãi xuất thì bong bóng chứng khoáng sẽ nổ, quỹ hưu bổng của giới trung lưu sụt giá sẽ khiến họ nổi giận bỏ phiếu cho đảng đối lập trong kỳ bầu cử tương lai.

Lãi xuất thấp nên dân Mỹ mượn tiền mua nhà. Nhiều người mua khiến giá nhà tăng vọt. Ngược lại NHTƯ chỉ dọa tăng lãi xuất thì thị trường nhà đất sẽ đóng băng, giới trung lưu thành thị thấy tài sản hao mòn sẽ giận dữ bỏ phiếu cho đảng đối lập trong kỳ bầu cử tương lai.

Bằng vào NHTƯ tiếp tục chính sách tiền rẻ sẽ có ngày lạm phát! Liều thuốc kích thích mất dần hiệu nghiệm vì không thể tiếp tục bơm tiền và hạ lãi xuất để thúc đẩy tăng trưởng một khi con bệnh sinh lờn thuốc.

Chính sách bơm tiền và hạ lãi xuất làm tăng hố sâu giàu nghèo vì có lợi cho người đang sở hữu tài sản (nhà đất và chứng khoáng) mà không tạo thêm công ăn việc làm hay nâng mức lương cho giới lao động (salaried workers.)

Chính sách bơm tiền và hạ lãi suất đào sâu làn ranh giữa hai thế hệ người lớn tuổi đã mua nhà và giới trẻ mới ra đời không đủ tiền mua nhà giá cả tăng vọt.

Chính sách bơm tiền và hạ lãi suất làm tăng khoảng cách giữa con cái nhà giàu thừa hưởng gia tài (nhà đất và cổ phiểu) và con cái nhà nghèo chỉ có sức lao động.

Chính sách bơm tiền và hạ lãi xuất làm tăng rủi ro đạo đức do giới đầu tư liều lĩnh tin rằng được NHTƯ bao che…cho đến lúc bàn tay vô hình trong quy luật kinh tế sẽ trừng trị nghiêm khắc cả NHTƯ lẫn thị trường về tội hư hỏng.

Trường hợp rủi ro đạo đức do chính sách bơm tiền và hạ lãi xuất của NHTƯ Mỹ là “chuyện lớn”, xin kể thêm một “chuyện nhỏ”: chính quyền Mỹ bảo đảm 250 ngàn USD cho mỗi tài khoảng gởi ngân hàng (FDIC insurance) để tránh cho các ngân hàng tư cạn vốn trong trường hợp dân chúng cuốn cuồn rút tiền (bank run) gặp lúc khủng hoảng. Nhiều ngân hàng tư dựa thế được nhà nước bao che nên liều lỉnh hứa hẹn phân lời cao nhằm thu hút tiền tiết kiệm. Dân chúng cũng an tâm được nhà nước bảo đảm nên chỉ chọn lãi xuất cao mà không cần biết đến ngân hàng tốt hay xấu.

Thí dụ sau cùng về rủi ro đạo đức là tình trạng too big to fail của các đại ngân hàng không sợ sập tiêm do lúc nào cũng được nhà nước cứu cấp, vì một đại ngân hàng vỡ nợ có thể kéo ngã toàn bộ nền kinh tế. Cho nên các đại ngân hàng ỷ thế làm liều còn lỡ bị lỗ mang ra chia đều cho dân chúng trả (tức là dùng tiền thuế.)

3.      Rủi ro đạo đức ở Trung Quốc

Trung Quốc đối mặt với một nghịch lý: kinh tế thị trường dưới sự kiểm soát của đảng cộng sản sinh ra rủi ro đạo đức là Bắc Kinh không chấp nhận mất uy tín và quyền lực nếu thị trường vạch trần và tẩy sạch những cặn bả của chế độ toàn trị.

Mô hình của Trung Quốc không mượn vốn nước ngoài mà dùng nguồn tiết kiệm của dân chúng trong nước[6] [7]. Nhà nước giữ lãi xuất tiết kiệm ở mức thấp; dân chúng gởi tiền vào ngân hàng; ngân hàng cho các địa phương và công ty quốc doanh vay với giá rẻ để xây dựng hạ tầng và công nghiệp nặng. Hạ tầng, lương bổng và quyền lợi công nhân thấp cộng thêm những quy định lỏng lẽo về môi trường hấp dẫn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài tạo thành bàn đạp để Trung Quốc nhảy vọt lên nền kinh tế đứng hàng thứ nhì trên thế giới.

Trong lần Đại Suy Thoái 2007-08 Bắc Kinh tung ra một gói kích cầu khổng lồ. Do kinh tế Trung Quốc đã trưởng thành nên nhu cầu hạ tầng và công nghiệp nặng (sắc thép, xi măng, v.v…) ngày càng hạn chế. Dù vậy, các địa phương và công ty quốc doanh quen thói mượn tiền với giá rẻ nên tiếp tục lảng phí vào những công trình kém hiệu năng (xây cất quá nhiều phi trường, xa lộ, khu phố chết,…) tạo thành nợ xấu và tăng trưởng kém chất lượng.

Núi nợ ngân hàng ở Trung Quốc tăng vọt. Bắc Kinh nhận thấy nguy hiểm nên ra lệnh cho hệ thống ngân hàng giảm tín dụng (bớt cho vay.) Các chính quyền địa phương và công ty quốc doanh thiếu hụt do quen thói mượn tiền giá rẻ nên quay sang dùng ngân hàng địa phương làm trung gian phát hành nhiều sản phẩm đầu tư (WMP, hay Wealth Management Product) để thu hút tiết kiệm của dân chúng. WMP không bị giám sát bởi Bắc Kinh bởi vì không trực thuộc hệ thống ngân hàng trung ương. WMP có phân lời cao so với lãi suất tiết kiệm để thu hút dân chúng gởi tiền. Các địa phương cùng công ty quốc doanh dùng WMP đầu tư vào đất đai trưng dụng của toàn dân. Tín dụng dồi dào sinh đầu cơ (speculation.) Giá địa ốc tăng vọt, nhà cửa lại là phần tài sản lớn nhất của dân chúng nên Bắc Kinh không dám giảm lượng tín dụng để xì hơi bong bóng nhà đất. Giả sử bong bóng nhà đất nổ thì các chính quyền địa phương và công ty quốc doanh cũng theo đó lâm nguy.

Dân Tàu biết tiền gởi vào WMP gặp nhiều rủi ro bị chính quyền địa phương và công ty quốc doanh ăn chận và đầu tư lảng phí nhưng vẫn ồ ạt mua WMP[8] vì:

(1) lãi suất quá hấp dẫn

(2) Bắc Kinh sẽ không dám để chính quyền địa phương hay công ty quốc doanh nào vỡ nợ vì sợ mất mặt nhà nước!

Trò cù cưa tay ba giữa Bắc Kinh, các chính quyền địa phương và công ty quốc doanh cùng dân chúng là nguyên do khiến Bắc Kinh không kiểm soát được lượng tín dụng từ năm 2013 cho đến nay. Tập Cận Bình không đạt được mục tiêu lành mạnh hóa thị trường do lạnh cẳng rút lui mỗi lần bong bóng địa ốc hay chứng khoáng bị nổ, hay vì sợ chảy máu ngoại tệ. Nhiều chuyên gia tin rằng khủng hoảng tài chánh từ núi nợ khổng lồ chồng chéo mới là mối đe dọa chính thay cho Trung Quốc thay vì lão hóa hay tăng trưởng chậm.

TÓM TẮT:

·         Rủi ro đạo đức do bàn tay hữu hình (thường là của nhà nước) cản trở bàn tay vô hình không cho tẩy sạch những sai phạm của thị trường.

·         Tăng trưởng của cả Hoa Kỳ lẫn Trung Quốc đều lệ thuộc vào chính sách tín dụng dễ dãi của nhà nước. Hai nền kinh tế lớn ghiền thuốc kích thích chứa hai hậu hoạn (núi nợ) khổng lồ. Nước nào sẽ trở thành siêu cường hạng nhất trong thế kỷ thứ 21 sẽ được quyết định bởi núi nợ nào sập trước.


 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 



[1] This Time Is Different: Eight Century of Financial Folly. Tác giả Carmen M. Reinhart và Keneth S. Rogoff

 

[2] NHTƯ Hoa Kỳ có 2 trọng trách được Quốc Hội giao phó gồm (1) tạo công ăn việc làm trong nước Mỹ, (2) bình ổn giá cả ở Mỹ. NHTƯ làm dâu trăm họ vì cả (1) và (2) đều bị tác động trực tiếp bởi toàn cầu hóa, nên muốn lo cho Mỹ phải lo chuyện toàn cầu nhưng lo chuyện toàn cầu không phải lúc nào cũng có lợi cho Mỹ!

 

[3] Quantitative Easy hay QE (nới lỏng định lượng) nôm na là bơm tiền. NHTƯ in tiền mua nợ công (T-Bills) và nợ địa ốc (mortgage backed securities) khiến lượng tiền lưu hành trong thị trường tăng đồng thời lãi xuất giảm

 

[4] Giới trung lưu thành thị đầu tư trực tiếp vào chứng khoáng bằng cách mua cổ phiếu (bao gồm stocks, ETFs và Mutual Funds) hay gián tiếp qua các quỹ hưu trí (IRA, 401K, pension funds) và bảo hiểm

 

[5] Dân chúng ở đây hiểu theo nghĩa rộng bao gồm các quỹ hưu trí, 401K, IRA, quỹ đầu tư (brokerage account), quỹ bảo hiểm của mỗi người dân Mỹ

[6] Nhờ không có đầu tư gián tiếp (tức là mượn vốn nước ngoài) nên Trung Quốc tránh được tình trạng tư bản rút vốn tháo chạy.

 

[7] Trung Quốc khuyến khích các công ty ngoại quốc bỏ vốn đầu tư trực tiếp xây cất hảng xưởng trong nước (khác với cho mượn vốn tức đầu tư gián tiếp)

[8] Dân Tàu không có nhiều cơ hội đầu tư: gởi tiết kiệm ngân hàng lãi xuất thấp; thị trường cổ phiếu như trạm đua ngựa; không có những gói đầu tư như ETFs, Mutual Funds để giảm thiểu rủi ro. Dân Tàu lại cần để dành tiền do mua nhà và giáo dục con cái quá đắt trong khi an sinh xã hội kém nên các WMP trở thành hấp dẫn với phân lời cao lại mặc nhiên được nhà nước bảo đảm.

Thursday, June 24, 2021

Kinh Tế Dễ Hiểu: Khủng hoảng Tiền Tệ (Chương 10)

Khủng hoảng kinh tế có 2 hình thức: khủng hoảng cung cầu và khủng hoảng tài chánh. Khủng hoảng cung cầu do chiến tranh hoặc thiên tai (hạn hán, động đất, dịch bệnh,v.v…) khiến hảng xưởng bị tàn phá, mùa màng bị thất thu. Hàng hóa không cung cấp đủ cho nhu cầu nên cơ bắp của nền kinh tế trở nên yếu đuối bại hoại.

Khủng hoảng tài chánh do nơi tiền và bao gồm bong bóng, lạm phát, nợ trong nước, nợ ngoài nước và khủng hoảng ngân hàng. Tiền như máu huyết trong cơ thể nên khi nghẽn mạch máu - tức là dòng tiền bị đứt lưu thông - thì nền kinh tế sẽ bị tê liệt.

Tiền một khi được cởi trói (financial liberalization) sẽ tự do chảy tìm ngõ ngách kiếm lời. Nguồn tiền nếu dồi dào (tiền đầu tư từ nước ngoài, hoặc một mối đầu tư mới hấp dẫn thu hút tiền vào) sẽ thôi thúc giới kinh doanh hám lợi mà trở nên liều lỉnh, cẩu thả rồi dẫn đến thất thoát, đầu tư kém hiệu quả và bong bóng. Trường hợp các ngân hàng hay công ty tài chánh cho vay nhiều nợ xấu đến lúc phải ngừng cho vay, hoặc kẹt vốn đành bán tháo tài sản khiến thị trường chứng khoáng và nhà đất tụt giá. Doanh nghiệp bị ảnh hưởng dây chuyền buộc phải cắt giảm đầu tư hoặc đóng cửa. Dân chúng lo sợ mất công ăn việc làm nên bớt tiêu thụ. Thuế thu vào ít đi, nhà nước vừa giảm thu lại tăng chi cho trợ cấp thấp nghiệp cùng các gói kích cầu khiến ngân sách bị thâm thủng nghiêm trọng.

Ngược lại tiền bị cột trói (financial repression) cũng dẫn đến khủng hoảng tài chánh. Nhà cầm quyền hạn chế những cơ hội đầu tư nên dân chúng không có nhiều chọn lựa mà phải gởi tiết kiệm vào ngân hàng với phân lời thấp do nhà nước quy định. Ngân hàng thu vào tiền giá rẻ, đến phiên cho nhà nước, các công ty quốc doanh hay tư bản thân hữu vay mượn với lãi xuất ưu đãi. Quen thói làm càng nên những thành phần kinh tế nói trên sinh tật hối mại thất thoát và đầu tư kém hiệu quả. Kết quả ngân hàng rồi sẽ phải ôm đồn một khối nợ xấu.

Đến lúc kinh tế suy thoái, nhà nước tăng chi còn NHTƯ (Ngân Hàng Trung Ương) phải bơm tiền cứu vớt các ngân hàng con sẽ khiến lạm phát tăng và đồng bạc mất giá so với ngoại tệ. Tư bản nước ngoài sợ thua lỗ nên khi tháo chạy không chỉ rút vốn ra khỏi quốc gia khủng hoảng (như Thái Lan 1997 hay Hy Lạp 2010) mà ùa theo đám đông thối lui toàn bộ một khu vực (Đông Á 1997, Nam Âu 2010) khiến nhiều nước lân cận bị vạ lây – lý do vì các quốc gia trong cùng một khu vực thường phát triễn theo mô hình tương tự như nhau nên đến lúc khủng hoảng rất dễ bị lây lan. Nhiều nước nguy ngập phải cầu viện đến IMF giúp điều đình xin tư bản ngoại quốc đáo nợ, giảm nợ hay trì hoãn hạn kỳ trả nợ.

Thí dụ nói trên không tiêu biểu cho một cuộc khủng hoảng vì không có hai khủng hoảng tài chánh nào giống nhau. Mục đích nơi đây chỉ nhằm cho thấy khủng hoảng tài chánh nguy hại và lây lan nhanh không kém gì vi-rút Vũ Hán. Kinh Tế Dễ Hiểu có vài nhận xét như sau:

1.      Lý do khủng hoảng tài chánh trầm trọng và lâu hồi phục là khi tiền dồi dào dễ vay mượn thì các nhà đầu tư dùng nợ làm đòn bẩy kinh doanh (leveraging.) Thí dụ một người bỏ vốn 10 ngàn mua chứng khoáng nếu thị trường tăng 10% sẽ lời 1 ngàn. Nhưng nếu họ dùng 10 ngàn đặt cọc (deposit) làm đòn bẩy mượn tổng cộng 100 ngàn mua nhà, đến khi giá nhà tăng 10% sẽ lời 10 ngàn tức là gấp 10 lần nhiều hơn không dùng đòn bẩy. Đòn bẩy là cách mang tám lượng đẩy ngàn cân trong truyện Tàu.

2.      Thí dụ nói trên cho thấy bong bóng nhà đất thường là một dấu hiệu đi trước khủng hoảng tiền tệ như ở Mỹ 2007 và Nam Âu 2010. Các trường hợp khủng hoảng tài chánh khác gồm sàn chứng khoáng Hoa Kỳ bị sụp vào Đại Khủng Hoảng 1929; Thái Lan vì nợ đầu tư kém hiệu quả nên bị giới đầu cơ thao thúng giá hối đoái 1997; nợ và đầu tư kém hiệu quả ở Trung Quốc và Việt Nam 2017.

3.      Khi tiền bạc càng dồi dào (easy money) thì ngân hàng dễ cho vay. Thí dụ ngân hàng lúc trước bắt người đi mượn nợ phải bỏ vốn 10% (10 ngàn), xuống 5% rồi chỉ còn 0% (không cần vốn). Ngân hàng cho vay càng nhiều càng có lời; nhiều người mượn tiền mua nhà khiến giá địa ốc tăng nhanh; giá nhà tăng nên ngân hàng dễ gọi giới đầu tư góp thêm vốn mới cho vay. Vòng xoáy cứ thể bơm lên bong bóng ngày càng phình to.

4.      Người mua dùng căn nhà thế chấp nợ nên thiếu tiền trả nợ hàng tháng thì ngân hàng tịch thu nhà mà vẫn lời (do giá nhà tăng.) Ngân hàng nắm đàng cán nên không sợ bị lỗ.

5.      Đến khi gánh nợ quá nặng thì gãy cán đòn. Dùng đòn bẩy khi giá cả tăng lời nhanh nhưng lúc xuống lỗ nặng. Ngân hàng nhát vốn không dám cho vay, doanh nghiệp lẫn tư nhân đều lo trả các khoảng nợ chồng chất trong thời gian dài - người Mỹ gọi là deleveraging – đành cắt giảm đầu tư và chi tiêu khiến nền kinh tế phục hồi chậm chạp (slow recovery.)

6.      Ở Mỹ khủng hoảng tài chánh và địa ốc năm 2007 mãi cho đến 2019 mới trở lại mức thất nghiệp 3% (nhưng ngay sau đó bị dịch cúm Tàu 2020 khiến Trump thất cử.) Tại Âu Châu khủng hoảng Euro năm 2010 cho đến giờ này chưa hồi phục. Nước Nhật chiếm kỷ lục bong bóng địa ốc vỡ vào cuối thập niên 1980 nay vẫn chưa thoát ra nạn trì trệ (Thêm vào đó là nạn lão hóa trầm trọng ở Nhật khiến kinh tế không tăng trưởng.)

7.      Ngược lại các nước Đông Á phục hồi nhanh sau khủng hoảng tài chánh so với những nước công nghiệp. Trung Quốc 1988, Nam Hàn-Đài Loan-Philippines-Indonesia 1998, Trung Quốc và Việt Nam 2017 chỉ mất 2-3 năm để trở lại mức độ tăng trưởng củ (Khủng hoảng 2007 không được liệt kê nơi đây vì lây lan từ bên ngoài thay vì do bong bóng trong nước.) Lý do vì GDP những nước Đông Á phát triển nhanh 6-10% mỗi năm trong khi các nền kinh tế trưởng thành Âu-Mỹ-Nhật chỉ tăng trưởng 1-2.5% một năm. GDP tăng nhanh nên tỷ số nợ so với GDP teo dần rồi biến mất. Thí dụ một người mới đi làm lương 50 ngàn mượn nợ 100 ngàn thấy quá lớn nhưng đến lúc lương tăng 200 ngàn thì 100 ngàn nợ củ chẳng là bao!

Kinh tế của Trung Quốc đang trưởng thành, dân chúng bắt đầu lão hóa nên tăng trưởng sẽ thụt xuống còn khoảng 3% trong vài năm nửa, tức là Bắc Kinh khó xoay sở trong các cuộc khủng hoảng tài chánh tương lai. Ngược lại Việt Nam có thể phát triển 7-8% thêm một khoảng thời gian dài cho nên lỡ bị khủng hoảng thêm 1-2 lần vẫn còn cơ hội đối phó!

8.      So với Đông Á thì các nước Nam Mỹ vỡ nợ dài dài (serial default) từ thập niên 1980 cho đến nay. Nam Mỹ lệ thuộc vào xuất cảng nguyên vật liệu (commodities) nên lúc kinh tế thế giới tăng xuất cảng nguyên vật liệu theo đó lên cao, còn gặp khủng hoảng thì nguyên vật liệu mất giá. Các nước Nam Mỹ vay mượn lúc tăng trưởng đến chu kỳ suy thoái đâm ra vỡ nợ.

Ngược lại Đông Á chú trọng xuất cảng công nông nghiệp, lại dìm giá hối đoái giúp bán hàng rẻ để thu vào và tích trữ ngoại tệ phòng khi khủng hoảng. Các nước Đông Á rút kinh nghiệm từ bài học 1998 nên bắt chước sự thành công của Nam Hàn, Đài Loan, Singapore, Trung Quốc,...thu hút đầu tư nước ngoài khiến toàn vùng Đông Á trở thành khu vực kinh tế năng động và nhiều triển vọng nhất hoàn cầu từ thập niên 1970 cho đến nay.

9.      Đầu tư nước ngoài có hai hình thức: đầu tư trực tiếp (FDI hay Foreign Direct Investment) tức doanh nghiệp nước ngoài xây nhà máy hay hạ tầng, vừa tạo công ăn việc làm, vừa chuyển giao công nghệ lại khó tháo vốn, nên là kiểu đầu tư thường được ưa chuộng[1].

Ngược lại nguồn vốn nước ngoài thay vì xây cất hảng xưởng có thể đi theo dòng tiền tự do lưu thông. Tiền nước ngoài tràn vào nhanh thì rút ra cũng dễ. Tiền bơm vào địa ốc và chứng khoáng đến khi bong bóng vỡ thoát vốn tháo chạy. Các nhà đầu tư một khi rút vốn lại hùa nhau thoái lui theo từng khu vực khiến nhiều nước bị vạ lây.

Cho nên IMF trước đây cổ vỏ cởi trói tiền tệ nay cũng sinh ra dè dặt.

10. Nợ gồm có trong nước và ngoài nước. Nợ ngoài nước thường dùng ngoại tệ (USD) trong khi nợ trong nước dùng đồng bạc nội địa.

Nếu mượn nước ngoài bằng USD phải trả bằng USD. Lỡ cạn kiệt USD nước đi vay phải xin hoãn nợ, tái cấu trúc nợ (hạ thấp lãi xuất hay kéo dài thời gian trả nợ), hoặc nhờ vã IMF cho vay bắt cầu (bridge loan) và làm trung gian điều đình với chủ nợ. Chuyện quịt nợ ít xãy ra vì chủ nợ vẫn có thể thưa kiện toà án nước ngoài để tịch thu tài sản ở ngoại quốc. Khi đồng tiền nội địa bị mất giá so với USD thì doanh nghiệp vay mượn bằng USD có nguy cơ phá sản do không đủ USD trả nợ.

Các nhà đầu tư ngoại quốc thường đòi phân lời cao (6-7% cao hơn thị trường) để bù đắp rủi ro khi cho quốc gia nợ xấu vay mượn. Họ tính toán trừ trường hợp bị quịt nợ ngoài ra đáo nợ hay tái cấu trúc nợ cũng vẫn có lời. Cho nên nhiều nước tuy vỡ nợ dài dài (serial default) mà vẫn mượn thêm được nợ.     

11. Nợ trong nước mượn bằng tiền nội địa. Nhà nước quịt nợ bằng cách giết chết chủ nợ (tái cấu trúc nợ kiểu này xảy ra dưới thời vua chúa và cộng sản – cho nên có trường hợp con cháu mấy chục năm sau vẫn ra tòa án đòi nước Nga trả nợ sau khi Liên Bang Xô Viết sụp đổ), đổi tiền hay đơn phương hạ mức trần lãi suất. Các biện pháp này gây rất nhiều xáo trộn xã hội nên phương pháp thường dùng là tăng lạm phát!

Nhà cầm quyền in tiền khiến tiền mất giá nên nợ cứ bốc hơi cạn dần. Bình  thường nhà nước thu thuế để trả nợ thì lạm phát là một hình thức thuế má rất thâm độc đánh lén lên dân chúng khiến tiền trong tủ sắt cứ vơi dần mà ít ai để ý biết đến.

Lạm phát vừa vừa thì dân chúng than van vật giá ngày càng đắc đỏ. Trường hợp lạm phát phi mã (hyperinflation - trên 40% một năm) trở thành khủng hoảng tiền tệ sinh nhiều ra xáo trộn xã hội. Trường hợp Venezuala năm 2020 lạm phát 10,000,000% nhưng chính quyền Malduro vẫn còn tồn tại được!

12. Để kết luận phần này Kinh Tế Dễ Hiểu xin sơ lược trận Khủng Hoảng Tài Chánh Toàn Cầu 2007 (GFC hay Global Financial Crisis) để cho thấy mức độ lây lan và nguy hiểm của khủng hoảng tài chánh. Mức độ trầm trọng của biến cố chỉ thua cuộc Đại Khủng Hoảng 1929 (Great Depression), và ít nhiều liên quan đến khủng hoảng Euro 2010 rồi khủng hoảng tài chánh Trung Quốc 2017.

Vào đầu thế kỷ 21 Hoa Kỳ đứng trên đỉnh điểm quyền lực theo trào lưu dân chủ hóa, toàn cầu hóa, tự do mậu dịch và cuộc cách mạng điện toán. Ngành tài chánh ngân hàng ở Mỹ tưởng chừng như vững chắc như đồng: NHTƯ dưới thời Alan Greenspan khắc phục được nạn lạm phát, trong khi chính sách cởi trói tiền tệ tạo môi trường cho giới phù thủy tài chánh (financial engineering) thi thố phù phép biến hóa ra nhiều cơ hội đầu tư mới, hấp dẫn và ngoạn mục.

Do NHTƯ hạ lãi suất xuống thấp từ sau biến cố 9/11 nên dòng tiền phải đi tìm lợi nhuận. Kinh doanh địa ốc ở Mỹ vừa có lời lại an toàn không kém nợ công Hoa Kỳ (T-Bills), lý do giá nhà ở Mỹ chỉ biết tăng mà không giảm! Cho nên các quỹ đầu tư và hưu trí Tây Phương, tiền bạc của Đông Á và Trung Đông tranh nhau đổ vào ngành địa ốc Hoa Kỳ. Ngân hàng Mỹ có sáng kiến là thay vì chết vốn cho mượn tiền mua nhà trả góp trong vòng 30 năm, nay ngân hàng bán chuyền tay nợ địa ốc (mortgage securization) cho các nhà đầu tư trong hay ngoài nước.  Nhất cữ lưỡng tiện vì ngân hàng gây thêm vốn mới trong khi giới kinh doanh quốc tế có cơ hội đầu tư vào nhà đất ở Mỹ. Ngân hàng càng nhiều vốn cho vay càng có thêm người mua đẩy giá nhà lên cao; giá địa ốc tăng càng thêm nhiều người muốn đầu tư; vòng xoáy dây chuyền cứ như vậy bơm lên thành bong bóng bay lên đụng trời.

Ngân hàng ham lời nên cho vay dễ dàng, dần dần trở thành cẩu thả đến mức những người không bỏ vốn mà không đủ sức mua nhà vẫn mượn được nợ. Ngân hàng thúc giục thân chủ đi vay dùng nợ làm đòn bẩy để chỉ trả tiền hàng tháng rất ít rồi đợi đến lúc giá nhà tăng bán lại kiếm lời. Ngân hàng giảm thiểu rủi ro bằng cách pha trộn nợ tốt với nợ xấu thành từng gói nợ rồi chặt mỏng thái từng lát nợ (tranche) bán cho giới đầu tư - kiểu như bán chả lụa thịt heo trộn thịt chuột! Vậy mà giới đầu tư vẫn tranh đua mua vì những gói nợ này được các hảng tín dụng như Moody’s hay Standard&Poors cho điểm AAA+ với lý do ngành địa ốc không bao giờ thua lỗ!

Siêu đại công ty AIG lại bảo đảm thêm an toàn cho giới đầu tư bằng cách bán bảo hiểm cho các gói nợ địa ốc không bị mất giá (credit default swap.) AIG tính chỉ thu lời mà không sợ lỗ, lý do vẫn là đầu tư vào địa ốc không bao giờ thua lỗ! 

…Cho đến ngày thua lỗ trong địa ốc. Giá nhà tăng quá cao hết người mua. Người mua nhà không đủ tiền trả hàng tháng phải chịu mất nhà. Giá nhà rơi xuống thảm hại. Các ngân hàng và giới đầu tư bị đe dọa phá sản bởi những gói nợ độc hại (toxic mortgages), nhưng Bộ Tài Chánh Hoa Kỳ quyết định không cứu vớt đại ngân hàng Lehman Brothers nhằm dạy cho giới kinh tài phố Wall bài học đầu tư cẩu thả. Không ngờ khi giới tài chánh thấy một trong ngũ đại ngân hàng bị sập tiệm nên hoảng hốt xét lại sổ sách mới vỡ lẽ tất cả các ngân hàng và công ty tài chánh đều ít nhiều ôm nợ độc hại. Đáng sợ nhất do nợ xấu trộn lẩn vào nợ tốt nên sau khi buôn bán chuyền tay vài lần rốt cục không còn biết ngân hàng sắp vỡ nợ vì nắm trong tay bao nhiêu nợ xấu hay tốt!

Toàn bộ các ngân hàng sợ hụt vốn lo thủ tiền mặt nên không dám cho doanh nghiệp bên ngoài vay ngắn hạn vào đầu tháng để trả lương và thanh toán hóa đơn. Doanh nghiệp tê liệt phải đóng cửa hay sa thải nhân viên. Đại công ty AIG bị đe dọa phá sản vì lỡ bảo hiểm nhiều gói nợ độc hại. Cuộc khủng hoảng bắt đầu từ ngành địa ốc lan sang tài chánh ngân hàng rồi bao phủ toàn bộ nền kinh tế.

Tin đồn các ngân hàng Âu Châu thua lỗ nợ địa ốc ở Mỹ khiến giới đầu tư Âu châu hoảng hốt rút vốn USD (do giao dịch quốc tế phần lớn dùng USD.) Ngân hàng Âu Châu (và Nhật) thừa Euro (và Yen) nhưng thiếu USD đành phải cầu cứu NHTƯ Hoa Kỳ mở các đường dây hoán chuyển ngoại tệ (currency swap) bơm USD vào hệ thống ngân hàng Âu-Nhật, rồi đến phiên ngân hàng Âu-Nhật bơm USD vào các ngân hàng Đông Âu, Nam Hàn, Đài Loan...

Ngân hàng Âu Châu thua lổ ở Mỹ khi xem sổ sách mới khám phá ra chính họ cũng đã cẩu thả cho Hy Lạp vay với lãi xuất cực rẻ, lý do vì Hy Lạp là thành viên Euro cho dù trước đó thuộc loại quốc gia nợ xấu dây chuyền (serial default.) Nhà nước Hy Lạp gian lận sổ sách trong khi bong bóng địa ốc đã bơm lên căng phòng từ năm 2000. Ngân hàng Âu Châu hoảng hốt không những tháo chạy khỏi Hy Lạp mà còn rút vốn ra khỏi 3 nước lân cận gồm Ý, Tây Ban Nha và Bồ Đào Nha khiến toàn vùng Nam Âu mang họa. Khối Euro từ đó rạn nứt giữa Bắc Âu (nhà giàu hà tiện) và Nam Âu (nhà nghèo xài sang.)

Trung Quốc bị ảnh hưởng dây chuyền do nhu cầu tiêu thụ của Tây Phương co rút. Tàu không bán được hàng hóa nên ngừng mua nguyên vật liệu của Úc và Nam-Mỹ đến phiên BrazilArgentina ngã nhào. Cuộc khủng hoảng tài chánh lây lan ra toàn cầu giống như vi-rút Vũ Hán.

Trung Quốc giờ này bị phê bình nhưng phải thành thật nhận xét Bắc Kinh có công tung ra một gói kích cầu khổng lồ 586 tỷ USD vào năm 2007 (tương đương với 16% GDP của Trung Quốc thời bấy giờ) nhờ vậy góp phần chận đứng khủng hoảng không trầm trọng thêm. Gói kích cầu này một mặt thúc đẩy nền kinh tế Trung Quốc tăng vọt nhưng đồng thời cho giới tư bản thân hữu vay đầu tư cẩu thả vào những khu phố ma dẫn đến cuộc khủng hoảng năm 2017 ở Trung Quốc

Khủng Hoảng Tài Chánh Toàn Cầu (2007) không những dẫn đến khủng hoảng Euro (2010) và khủng hoảng tài chánh Trung Quốc (2017) mà còn để lại nhiều ảnh hưởng vô cùng sâu đậm về chính trị và xã hội cho đến giờ này vẫn chưa thấy hết hậu quả: chính sách bành trướng của Trung Quốc ở biển Đông từ sau Thế Vận Hội Bắc Kinh 2008; Brexit và Donald Trump 2016; trào lưu dân túy ở Đông Âu (Tiệp, Ba Lan), Nam Mỹ (Brazil, Mexico) và Ấn Độ; tâm lý bài Tây Phương ở Nga và Trung Đông.

Khủng Hoảng Tài Chánh Toàn Cầu 2007 vừa bắt đầu qua khỏi thì thế giới bị nhồi thêm Đại Dịch Vũ Hán. Các gói kích cầu khổng lồ khiến kinh tế Mỹ hiện thời bốc hỏa nhưng chỉ là hiệp thứ nhì, còn sau này hậu hoạn kinh tế, chính trị và xã hội sẽ ra sao…Thiên Cơ Bất Khả Lậu!

TÓM TẮT

a.      Khủng hoảng tài chánh gồm có bong bóng, nợ trong nước, nợ nước ngoài, lạm phát và khủng hoảng ngân hàng.

b.      Khủng hoảng tài chánh lây lan rất nhanh do dòng tiền lưu chuyển tự do.

c.      Khủng hoảng tài chánh theo khu vực (Đông Á 1997, Nam Mỹ 2001) hay toàn cầu (Đại Khủng Hoảng 1929, Khủng Hoảng Tài Chánh Toàn Cầu 2007.)

d.      Các nước Nam Mỹ thường bị vỡ nợ theo chu kỳ kinh tế toàn cầu khiến nguyên vật liệu tăng hay giảm giảm giá.

e.      Sau khủng hoảng kinh tế Âu-Mỹ-Nhật phục hồi chậm do GDP tăng trưởng chậm. Ngược lại khu vực Đông Á phục hồi rất nhanh trong vòng 2-3 năm nhờ GDP tăng trưởng nhanh.

 



[1] Một biệt lệ là vốn đầu tư Vòng Đai Con Đường (BRI) của Trung Quốc cho vay kém minh bạch, phân lời cắt cổ, kém hiệu quả lại dùng công nhân Tàu nên không tạo công ăn việc làm cho dân chúng trong nước cho nên bị xem là liều thuốc độc.

Saturday, June 12, 2021

Kinh Tế Dễ Hiểu: Thị Trường Tiền Tệ (Chương 9)

 Người Mỹ nhìn nền kinh tế theo hai góc cạnh:

  1. Main street (khu phố chính) bao gồm công ăn việc làm và giá cả tiêu dùng hàng ngày nên liên quan đến cuộc sống thiết thực trong dân gian.
  2. Wall street (khu phố Wall) hay là thị trường tài chánh vốn ảnh hưởng đến giới đầu tư tiền và nhà đất.

Nói cách khác, khu phố chính ví như cơ bắp còn khu phố Wall như máu huyết trong cơ thể. Hai bộ phận này tuy liên hệ chặc chẻ nhưng đôi khi…chẳng ăn nhằm gì nhau: lực sĩ cho dù cơ bắp mạnh mẽ nhưng đứt mạch máu vẫn lăn ra chết!

Trường hợp dễ thấy nhất trong đại dịch Vũ Hán, tuy thất nghiệp ồ ạt nhưng giá nhà và chứng khoáng lại bay bổng ở Mỹ (và Việt Nam.) Dân chúng mất job thì tiền đâu mua nhà? Lý do được giải thích là do lãi xuất thấp và chính sách tiền tệ cởi mở của NHTƯ (Ngân Hàng Trung Ương) giúp nhiều người dễ mượn tiền mua nhà khiến giá địa ốc tăng; phân lời ngân hàng quá thấp nên giới đầu tư (bao gồm các quỹ bảo hiểm, hưu trí, tiền tiết kiệm,…) phải đổ tiền vào nhà đất và cổ phiếu để kiếm lời. Điều này cho thấy đời sống trong khu phố Wall không gần gũi với khu phố dân: thành phần có tài sản sở hữu nhà đất và chứng khoáng giàu thêm ngay trong hoàn cảnh giới lao động thợ thuyền mất việc.

Trong chính sách tiền tệ có hai cụm từ thường được nhắc đến gồm:

  1. Financial Liberalization: giải phóng (hay cởi trói) tiền tệ; và
  2. Financial Repression: ép buộc tiền tệ.

Hai chính sách này phức tạp nên Kinh Tế Dễ Hiểu chỉ trình bày qua vài thí dụ nhằm giúp người đọc có khái niệm tổng quát.

***

 1.      Cởi trói tiền tệ trong nước.

Nói đơn giản là nhà nước cắt giảm các quy định ràng buộc giới tài chánh ngân hàng (deregulation) nhằm khuyến khích tạo thêm cơ hội đầu tư mới cho dân chúng và giới kinh doanh. Chủ ý trong thị trường tự do càng có nhiều cơ hội càng dễ nắm lấy làm giàu (đồng thời cũng dễ mất vốn.)

Thí dụ tiền mua nhà để ở là tiền chết. Nhưng nếu nhà nước tháo gởi các quy định nhằm giúp ngân hàng dễ dãi cho người sở hữu địa ốc vay mượn bằng cách cầm cố nhà đất (refinance) để có vốn kinh doanh hay có tiền tiêu xài thì tiền chết lại trở thành tiền sống. Tiền không còn bị cột vào căn nhà mà được giải phóng (ngược lại nợ tăng mà tiêu xài quá mức hay kinh doanh cẩu thả sẽ…mất nhà!)

Ngân hàng trước đây cho vay mua nhà rồi thu tiền hàng tháng, tức ngân hàng chết vốn do tiền thu vào chậm chạp trong suốt 30 năm. Ngược lại nhà nước cởi trói quy định cho phép ngân hàng bán nợ củ (mortgage securitization) gây vốn mới. Ngân hàng có thêm vốn mới rồi lại tiếp tục cho vay tức là tăng số người mua nhà khiến thị trường địa ốc và kinh tế phát triễn. Nhờ ngân hàng bán nợ địa ốc cho các nhà đầu tư nên giới kinh doanh giả sử sống vùng xa xôi như Trung Đông hay Texas cũng có thể mua lại nợ và tham dự vào các thị trường địa ốc nóng hổi của Cali, Vancouver, Sydney... Ngành địa ốc được toàn cầu hóa nên bốc hỏa nhờ vốn không còn giới hạn theo từng địa phương (trước đây chỉ có dân Cali mua nhà Cali) mà vốn đến từ khắp mọi vùng trong nước và trên toàn thế giới (bây giờ nhà giàu Ấn Độ cũng đầu tư được vào địa ốc Cali.) Ngược lại chuyền tay bán nợ qua lại nhiều lần không còn biết ai là chủ nợ nên từ ngân hàng đến nhà đầu tư sinh cẩu thả bơm lên bong bóng địa ốc 2008.

Cởi trói tiền tệ đi đôi với đại chúng hóa thị trường tài chánh (democratization of finance), tức là tạo cơ hội rộng mở đến cho mọi người dù vay mượn hay đầu tư. Điều này lại đi đôi với Internet.

Trước đây chỉ các tay sừng sỏ mới tiếp cận được những thông tin “đi trước.” Nay nhờ Internet nên tin tức lan truyền nhanh chóng và tràn ngập trên Twitter, Reddit giúp cho giới đầu tư nhỏ lẻ tranh đua không thiệt thòi so với các đại gia. Sân chơi rộng mở được để thu hút đại chúng (Ngược lại khi mà chị Tư bán hột vịt lộn ở chợ Gò Vấp cũng nóng ruột theo dõi thông tin bitcoin thì bong bóng sắp vỡ tan!)

Phí giao dịch (trading fee) ở Mỹ 30 năm trước là 25 USD mỗi lần mua bán chứng khoáng, nay không tốn một đồng xu nhờ vào các hãng cạnh tranh trên Internet. Thị trường tài chánh được đại chúng hóa (democratized) nên người ít tiền nay cũng tham dự giống như người nhiều tiền (ngược lại do không trả phí nên nhiều người đâm ghiền chứng khoán như ghiền bài, thay vì đầu tư đâm ra đen đỏ!)

Một cuộc cách mạng tài chánh (financial revolution) hiện đang diễn ra nhờ vào các công ty tài chánh điện toán (Fintech, hay financial technology.) Dân chúng ở  rừng núi hay thôn quê cho đến nay vẫn không tiếp cận được với các dịch vụ tài chánh vì không có chi nhánh ngân hàng ở những vùng hẻo lánh. Nhưng nay ai cũng cầm tay điện thoại thông minh nên trong tương lai gần các hảng Fintech sẽ cho phép mở trương mục và giao dịch qua điện thoại. Công ty Fintech sẽ theo dõi thương vụ của một bà bán hủ tiếu ở Cà Mau mua bán với khách hàng qua điện thoại thông minh (thay vì dùng tiền mặt) nên biết hủ tiếu bà ngon có nhiều khách hàng, công ty Fintech sẽ đề nghị cho bà vay vốn để thay vì cả đời phải gánh hàng rong nay có cơ hội khuếch trương thành cửa tiệm.

Câu chuyện này không phải giả tưởng vì Alibaba và Wechat là hai công ty hiện đang dẫn đầu thế giới trong các thương vụ nhỏ lẻ trên mạng - một thí dụ được nhắc đến là ăn mày ở Trung Quốc nay nhận tiền qua điện thoại thông minh vì  không ai có tiền mặt (không biết có thật không.) Fintech còn rất nhiều ứng dụng khác, nhưng đi đôi với microfinance (tài chánh vi mô) sẽ giải phóng tiền tệ nhằm phát huy một cuộc cách mạng tài chánh làm thay đổi bộ mặt nhân loại từ thành thị cho đến thôn quê.

***

2.      Cởi trói tiền tệ ngoài nước.

Trong Chiến Tranh Lạnh tư bản Tây Phương không thể đầu tư sang khối cộng sản để bóc lột công nhân. Nay bức màn sắt sụp đổ thì mọi quốc gia đều được khuyến khích mở cửa để vốn đầu tư tự do lưu thông giữa các nước (financial liberation) theo trào lưu toàn cầu hóa.

Vốn nước ngoài dùng đầu tư xây dựng hạ tầng, nhà máy và thuê mướn nhân công tức có lợi cho tăng trưởng GDP. Ngược lại vốn nước ngoài cũng bị lạm dụng vào những công trình đầu tư kém hiệu quả. Vốn nước ngoài còn bơm lên bong bóng trong thị trường địa ốc (khu chung cư, khu du lịch…) và chứng khoán. Đến khi lạm phát tăng, ngân hàng và giới đầu tư nước ngoài tháo vốn bỏ chạy sẽ gây ra khủng hoảng tài chánh như khủng hoảng Tequilla Mễ Tây Cơ 1994, Đông Á 1998, Nga và Đông Âu 2000, Nam Mỹ 2002 và Nam Âu 2010.

Nước tìm chỗ trũng thì tiền cũng biết chạy vòng quanh thế giới kiếm lời. Thị trường nhà đất ở Nhật bị sụp vào đầu thập niên 1990 nên tiền chạy sang Đông Nam Á và Đông Âu tìm các con rồng sắp cất cánh. Khi Đông Á và Đông Âu bị khủng hoảng vào cuối thập niên1990 tiền lại đổ vào Mỹ và Nam Âu bơm thành hai bong bóng địa ốc rồi vỡ tung năm 2007 (Mỹ) và 2010 (Nam Âu.)[1]

Một đặc điểm là tiền bạc lưu thông dễ dàng nên các cuộc khủng hoảng tài chánh lây lan nhanh như dịch cúm Tàu, chủ yếu do tâm lý hoảng loạn của giới đầu tư. Năm 1997 giới đầu cơ rút vốn từ Thái Lan, tin xấu đồn đại khiến giới đầu tư hoảng hốt đua nhau tháo chạy khỏi Nam Hàn, Indonesia, Philippines…làm toàn vùng Đông Á bị vạ lây (người Mỹ gọi là drive by shooting, tức là ở gần không can hệ gì mà vô duyên lãnh đạn.) Sang thế kỷ 21 tư bản thua lỗ trong thị trường địa ốc Mỹ (khủng hoảng tài chánh Hoa Kỳ 2007) đâm ra nhát vốn ồ ạt rút khỏi Nam Âu (khủng hoảng Euro 2010-2012.)

Tiền bạc ở đâu có mà chạy vòng quanh thế giới như vậy? Một lý do được giải thích là thế giới hiện ngập lụt tiền tiết kiệm (savings glut). Các nước Âu-Mỹ-Nhật đông người lớn tuổi lo để dành tiền hồi hưu trong những quỹ hưu trí khổng lồ. Các nước bán dầu như OPEC, Nga, Na Uy tồn trữ những khoảng tiền kết sù vào những năm giá dầu tăng vọt. Cán cân mậu dịch chênh lệch và tình trạng thao túng ngoại tệ giúp các nước Đông Á như Nam Hàn, Trung Quốc, Việt Nam…tích lũy những khoảng dự trữ USD khổng lồ. Sau cùng là tình trạng giàu nghèo chênh lệch: nhà nghèo có bao nhiêu tiền xài hết trong khi nhà giàu xài không kịp, nhờ tiền bạc lưu thông dễ dàng nên đại gia Mỹ, Nga, Trung Quốc, Việt Nam, Trung Đông, Ấn Độ dư tiền của mua nhà đất ở Cali, Vancouver, Sydney, Singapore, Sài Gòn, Thượng Hải, Hồng Kông, Mumbai,…bơm lên bong bóng địa ốc trên toàn thế giới!

Lý do thứ hai là do các Ngân Hàng Trung Ương Mỹ và EU in tiền ào ạt. Tiền bạc dư thừa nên các ngân hàng Âu-Mỹ chỉ nhận gởi tiền với lãi xuất âm, cho nên tiền phải chạy đi kiếm lời sang thị trường địa ốc và chứng khoáng ở Tây Phương hay cho các nước đang mở mang vay mượn. Một ngày nào đó khi lạm phát và lãi suất ở Tây Phương tăng thì tiền lại rút ngược về Âu-Mỹ tạo thành một cuộc khủng hoảng trên toàn thế giới!

Tóm lại, IMF trước đây khuyến khích tiền lưu thông tự do giữa các nước nay đâm ra đắn đo dè dặt.

***

3.      Trói buộc tiền tệ (financial repression)

Đã có cởi trói tiền tệ thì phải có cột trói tiền tệ. Một hình thức trói buộc tiền tệ là cột giá hối đoái (currency manipulation.) Thí dụ Trung Quốc xuất cảng nhiều hơn nhập cảng với Hoa Kỳ thì lẽ ra NDT (Nhân Dân Tệ) phải lên giá so với USD (Mỹ cần đổi nhiều USD sang NDT để mua hàng Tàu.) Tuy nhiên Trung Quốc ép giá đồng NDT bằng cách nhận vào rồi tích lũy USD trong quỹ dự trữ mà không cho lưu hành nhằm ngăn không cho giá trị NDT tăng cao so với USD để tạo lợi thế cạnh tranh. Điều này cũng giống như đào hồ chứa nước chống lụt vào mùa mưa.

Thao túng hối đoái tuy đối với nước ngoài nhưng lại liên hệ chặc chẻ đến trói buộc tiền tệ trong nước. Nhà nước và công ty Trung Quốc tăng lợi nhuận nhờ vào xuất cảng lẽ ra tăng lương hay bảo hiểm xã hội cho dân chúng và nhân viên[2]. Nhưng Bắc Kinh bắt các công ty Trung Quốc gởi USD vào ngân hàng, rồi ngân hàng Trung Quốc phải tăng mức USD trong quỹ dự trữ ngoại tệ nên tiền giữ trong quỹ mà không được tiêu xài để cải thiện đời sống dân gian.

Do an sinh xã hội không được cải thiện nên dân chúng Trung Quốc phải tiết kiệm phòng khi bệnh hoạn, già yếu hay dùng trong giáo dục con cái. Giá nhà Trung Quốc cao vời vợi nên giới trẻ phải lo để dành tiền mua nhà. Nhà nước quy định mức lãi suất tiết kiệm ngân hàng rẻ mạt nhằm giúp ngân hàng có vốn cho các công ty quốc doanh và tư bản thân hữu vay với lãi xuất thấp. Do nhà nước quyết định lãi suất ngân hàng (thay vì thị trường tự do quyết định lãi xuất) nên đây là chính sách cột lãi xuất ngân hàng nhằm dùng tiền tiết kiệm của dân chúng hổ trợ cho nhà giàu (công ty quốc doanh và tư bản thân hữu) vay miễn phí [3].

Nhà nước Trung Quốc không cho ngân hàng và công ty tài chánh nước ngoài mở chi nhánh nhằm giúp các ngân hàng Trung Quốc không tăng lãi suất để cạnh tranh. Dân chúng Trung Quốc cũng không có nhiều cơ hội đầu tư đành gởi tiết kiệm vào các ngân hàng nhà nước cho dù lãi suất thấp.

Nhà nước Trung Quốc kiểm soát chặc chẻ lượng tiền USD thoát ra ngoại quốc, nhờ vậy chận được các đại gia trong nước tháo vốn bỏ chạy ra nước ngoài vào năm 2016. Đây cũng là một phương cách trói buộc tiền tệ không cho lưu thông tự do giữa các nước.

Không riêng gì Trung Quốc mà các nước Âu-Mỹ cũng có chính sách ép buộc tiền tệ. Ngân Hàng Trung Ương Hoa Kỳ giữ lãi suất thấp bằng cách in tiền mua nợ công và tư. Do phân lời ngân hàng thấp nên giới đầu tư bắt buộc phải kiếm lời bằng cách đổ tiền vào thị trường địa ốc và chứng khoán khiến giá nhà và cổ phiếu bay bổng cho dù thất nghiệp cao trong mùa dịch Vũ Hán. Chính sách của NHTƯ làm lệch lạch (distort) sự vận hành của thị trường tự do, bơm lên hai bong bóng khổng lồ mà NHTƯ đang kiếm cách xì hơi từ từ (tapering) thay vì đợi bong bóng nổ!

TÓM TẮT

a.      Giải phóng tiền tệ tạo thêm nhiều cơ hội cho dân chúng đầu tư, nhưng đồng thời cũng sinh ra nhiều rủi ro.

b.      Vốn nước ngoài lưu thông dễ dàng giúp phát triễn kinh tế nhưng cũng bị lạm dụng vào đầu tư kém hiệu quả. Đến khi giới đầu cơ rút vốn sẽ gây ra khủng hoảng tài chánh lây lan rất nhanh sang các nước lân cận.

c.      Ép buộc tiền tệ gồm cột giá hối đoái, nhà nước quy định lãi xuất thấp và không chi tiêu đủ vào an sinh xã hội. Dân chúng phải tiết kiệm bằng cách bớt tiêu thụ nên nhà nước dùng tiền tiết kiệm để hổ trợ chơ các công ty quốc doanh và giới tư bản thân hữu.

 

 

 

 

 

 

 

 

 

 

  



[1] Trung Quốc tuy bị vạ lây nhưng tránh được các cuộc khủng hoảng nói trên nhờ kiểm soát chặc chẽ dòng tiền ra vào.

[2] Lương bổng và an sinh xã hội tuy tăng nhanh ở Trung Quốc nhưng vẫn không bắt kịp mức tăng trưởng GDP.

[3] Khuyết điểm là mô hình kinh tế Trung Quốc nặng về tiết kiệm (hổ trợ cho xuất cảng) mà kém tiêu thụ. Để tránh bớt lệ thuộc vào xuất cảng nên Bắc Kinh đang cố chuyển đổi năng mức tiêu thụ nội địa.

Monday, May 24, 2021

Kinh Tế Dễ Hiểu: Tiền Đô La Mỹ (Chương 8)

Bàn về tiền không thể không nhắc đến USD. Nhiều nước ghanh tức Hoa Kỳ được hưởng tiện nghi quá đáng (exorbitant privilege) nhờ vào vai trò của USD trong khi dân Mỹ tức tối họ phải mang gánh nặng quá đáng (exorbitant burden) cũng vì USD. Chính quyền Hoa Kỳ xử dụng USD như một loại vũ khí lợi hại trên bàn cờ địa chính trị quốc tế cho nên trong cuộc tranh hùng Mỹ-Trung việc phá vỡ trận đồ USD dù ít được nhắc đến nhưng quan trọng không kém so với các lãnh vực kinh tế, chính trị, ngoại giao, kỷ thuật và quân sự.

Năm 1944 tức gần cuối Thế Chiến Thứ Hai 44 quốc gia tham dự hội nghị Bretton Woods ở Mỹ để tìm một đơn vị tiền tệ quốc tế nhằm giúp cho mậu dịch toàn cầu được suông sẻ, với hy vọng chiến tranh sẽ không xảy ra một khi thương mại được thắc chặc. Lấy thí dụ trước hội nghị nước Anh khi mua bán với Pháp phải đổi tiền Franc, mua bán với Mỹ phải dùng USD hay Yen với Nhật, cho nên thủ tục phiền toái và tốn kém. Kết thúc hội nghị Bretton Woods chọn USD làm đơn vị tiền quốc tế: giá trị USD cột vào vàng, rồi tiền Anh, Pháp, Nhật, v.v… đều neo theo USD. Như vậy hàng hóa mua bán giữa các nước dùng chung một đơn vị đo lường và hoán đổi là USD. Việc này giúp thương mại toàn cầu thuận tiện hơn là đổi tiền riêng lẻ giữa từng cặp hai quốc gia với nhau[1].

Sang đến thập niên 1960 nước Mỹ thiếu tiền vì chi tiêu quá mức vào chiến tranh Việt Nam và trong cuộc Chiến Chống Nghèo Đói (War On Poverty) của Tổng Thống Lyndon B. Johnson. Các nước lo Mỹ in thêm tiền khiến USD mất giá nên đòi đổi USD lấy vàng. Mỹ sợ hết vàng cho đến năm 1971 Tổng Thống Richard M. Nixon đơn phương tuyên bố Mỹ “tạm thời” không đổi USD ra vàng, thay vào đó thả nổi giá trị USD so với đồng Yen, Mark, Franc, v.v..do thị trường quyết định (“tạm thời” kiểu Mỹ nên 50 năm sau vẫn còn nổi lình bình!)

Năm 1979 Saudi Arabia đạt thỏa thuận với Hoa Kỳ để bán dầu nhận USD (gọi là Petrodollar.) Giá dầu trong cuối thế kỷ 20 lên xuống bất thường nên nước nào nhập cảng dầu cũng phải dự trữ USD.  

Nền kinh tế Mỹ xoay chiều từ sản xuất (manufacturing) sang thiết kế (design), dịch vụ (service economy) và tiêu thụ (consumption); từ xuất cảng sang nhập cảng. Mỹ trước đây là công xưởng của thế giới tự do trong Thế Chiến Thứ Hai nay trở thành thị trường nhập cảng lớn nhất hoàn cầu. Do Hoa Kỳ thâm thủng mậu dịch nên các đối tác thương mại gồm Nhật và các con rồng Đông Á (bán hàng hoá) cùng OPEC (bán dầu hỏa) ồ ạt thu vào những khoảng lợi nhuận khổng lồ. USD lẻ ra theo đó mất giá nhưng để tiếp tục duy trì lợi thế cạnh tranh nên nhiều nước dùng biện pháp thao túng tiền tệ (currency manipulation) bằng cách tích trữ USD không cho lưu hành (cũng giống như đào hồ chứa nước vào mùa mưa: USD bị chận không cho tràn vào thị trường để không mất giá.)[2]

Năm 1998 khủng hoảng tài chánh Đông-Á bắt đầu từ Thái Lan khi tư bản ngoại quốc rút vốn USD tháo chạy khiến đồng Bhat thủng đáy lúc quỹ dự trử USD của Thái cạn sạch. Khủng hoảng nhanh chóng lây lan từ Thái Lan ra toàn vùng Đông Á rồi chạy sang Nam Mỹ và Đông Âu khiến nhiều nhà cầm quyền bị lật đổ như tại Nam Hàn, Đài Loan, Phi, Indonesia, Brazil. Rút tỉa bài học này nên các quốc gia đang phát triễn gồm Trung Quốc, Nga, Nam Hàn, Đài Loan và vùng Đông Nam Á đều quyết định hổ trợ xuất cảng để thu vào USD càng nhiều càng tốt. Các nước trong khu vực Đông-Á tích lũy quỹ dự trử ngoại tệ khổng lồ như một công hai việc: (1) thao túng tiền tệ để tạo lợi thế cạnh tranh, (2) tăng ngoại tệ dự phòng trường hợp tư bản nước ngoài tháo vốn.

Dân Mỹ sướng vì tha hồ mua hàng trả bằng USD (tiện nghi quá đáng – exorbitant privilege) trong khi các nước xuất cảng thu vào USD rồi cất đó mà không dám xài để nâng cao mạng lưới y tế, giáo dục, an sinh xã hội và bảo vệ môi trường cho dân họ.

Dân Mỹ khổ vì USD giá cao nên hãng xưởng di dời ra nước ngoài khiến công nhân mất việc làm (ghánh nặng quá đáng – exorbitant burden.) Thất nghiệp mà vẫn có mua hàng xài, vậy mới hay!

Nhiều nước dự trữ USD rồi gởi tiền sang Mỹ để kiếm chút đỉnh lời vì Hoa Kỳ được xem như chốn giữ tiền an toàn (safe haven). Mỹ dễ dàng vay mượn với lãi suất thấp nên cả nhà nước lẩn dân chúng đều tiêu xài thẳng tay.

Nước nào cũng cho Hoa Kỳ vay nên nợ công của Mỹ (Treasury Bills, hay T-Bills) có giá trị tương đương USD: thí dụ Việt Nam mua T-Bills của Mỹ nhưng cần tiền mặt trước khi T-Bills đáo hạn; Việt Nam có thể bán T-Bills cho Ấn Độ đổi lấy USD. Như vậy T-Bills và USD giống nhau đến 99.9% (trừ một ngoại lệ vào dịch cúm Tàu tháng 03-2020 chỉ trong vài ngày thị trường không chịu trao đổi T-Bills mà chỉ muốn USD. Lý do trong cơn hốt hoảng cao độ ai nấy chỉ lo thủ vàng và tiền mặt.)

Câu chuyện ngược đời mỗi lần khủng hoảng kinh tế vị trí của đồng USD lại càng thêm vững chắc. Thứ nhất, Hoa Kỳ được xem là nơi gởi tiền an toàn nên gặp lúc khó khăn nhiều nước tranh nhau gởi tiền cho Mỹ với lãi suất thấp. Thứ nhì, các nhà đầu tư trên thế giới thường rút USD tháo chạy khi gặp khủng hoảng: trường hợp năm 1998 Thái Lan cạn USD khiến đồng Bhat thủng đáy là một, nhưng năm 2008 các ngân hàng Âu Châu thừa Euro mà thiếu USD vào lúc tư bản tháo vốn ra khỏi Nam Âu. Cho nên NHTƯ (Ngân Hàng Trung Ương) Hoa Kỳ phải thiết lập khẩn cấp các đường dây hoán chuyển ngoại tệ (currency swap) cung cấp USD cho NHTƯ Âu-Nhật để rồi Âu-Nhật bơm USD vào hệ thống ngân hàng tư và các nền kinh tế của Nam Hàn, Đài Loan, Mã Lai, v.v…tránh tình trạng kẹt vốn dây chuyền. Như vậy vai trò của USD mặc nhiên cũng cố mỗi lần khủng hoảng.

***

Phần trên cho thấy USD vừa là (1) tiền quốc tế cho thương toàn cầu, (2) tiền dự trữ quốc tế. Do chưa ai “chê” USD nên USD tiếp tục giữ ngôi vị thống trị. Người Mỹ gọi USD tạo thành Network Effect tức Mê Hồn Trận cột trói chằng chịt. Nga-Tàu dù tức giận nhưng vẫn chưa gỡ ra nút thắt:

Lý do chính là trong đám mù kẻ chột làm vua. Đồng Euro chưa biết có sẽ tan rã hay không. Đồng NDT (Nhân Dân Tệ, còn gọi là Ren Min Bi tức RMB) do nhà nước Trung Quốc kiểm soát chặc chẻ giá trị thay vì được quyết định bởi thị trường nên quốc tế và doanh nghiệp nước ngoài e sợ Bắc Kinh vì lợi ích riêng tư mà gây thiệt hại cho họ. USD bị Mỹ chi phối nhưng còn cơm ăn thay vì NDT bị Tàu thao túng chỉ húp cháo. Thí dụ dễ hiểu, đại gia Việt Nam gởi của cải qua Mỹ (hay Âu, Úc) chớ không dại gì chuyển tiền sang Tàu.

Trung Quốc lại là nước xuất cảng nhiều hơn nhập cảng nên ít có nước nào thặng dư mậu dịch với Tàu hòng tích lũy NDT.

USD hiện chiếm 60% kho dự trữ ngoại tệ trên toàn thế giới. 60% thương mại toàn cầu dùng bằng USD. 90% các dịch vụ đổi tiền hàng ngày dính líu đến USD. Vì đa số các giao dịch trên quốc tế ít nhiều liên quan đến USD, tức liên hệ đến ngân hàng Mỹ, nên Hoa Kỳ mới có thể đơn phong tỏa thương mại một nước như Iran: Mỹ không cấm được Tây hay Tàu buôn bán với Iran nhưng có quyền chặn không cho tiền thông qua các ngân hàng Mỹ. Điều này cũng như trong quân sự đóng chốt chận tuyến lưu thông.   

***

Đồng USD quá mạnh nên Hoa Kỳ lạm dụng quyền lực này một cách bừa bãi. Các tổng thống từ Dân Chủ cho đến Cộng Hòa đơn phương dùng USD như vũ khí trừng phạt đối phương mà không cần thông qua Liên Hiệp Quốc. Vừa dễ mượn tiền lại in tiền trả nợ nên Hành Pháp lẫn Quốc Hội đều ăn xài thẳng tay, còn việc cãi nhau để cân bằng ngân sách chỉ là vỡ kịch mùa tranh cử dụ khị dân chúng bỏ phiếu cho phe mình.

Thiệt hại trước mắt là công nhân Mỹ mất việc do giá USD cao nên hãng xưởng di dời ra ngoại quốc khiến Hoa Kỳ gánh chịu lỗ lả khi mua bán với nước ngoài.

Thiệt hại trong tương lai khi nợ nần chồng chất nên thế giới đổi ý không cho vay mượn. Khi đó lãi xuất và lạm phát sẽ tăng vọt ở Mỹ. USD in ra càng nhiều càng mất giá. Nhà nước sẽ phải tăng sưu cao thuế nặng trả nợ khiến dân tình oán than, kinh tế suy sụp.

Nhà tỷ phú dầu hỏa Paul Ghetty từng nhận xét “Nếu bạn mượn ngân hàng $100 phải lo trả. Nếu bạn thiếu $100 triệu đến phiên ngân hàng năng nỉ bạn trả.” (If you owe the bank $100 that’s your problem. If you owe $100 million that’s the bank problem.) Việt Nam cũng có câu chuyện tương tự là người thiếu nợ ngập đầu than vãn với chủ kiếp này trả không xong xin chết đầu thai làm trâu ngựa trả nợ; chủ nợ nghĩ thầm mình lại phải tốn tiền mua trâu ngựa rồi nuôi cho nó ăn, thôi đành an ủi ráng sống để từ từ trả nợ.

Một ngày nào đó cả thế giới phải nhào vào cứu vớt USD vì Mỹ xập tiệm thì Tàu Việt cũng tiêu!

***

Nhung các đối thủ (Nga, Tàu) hay đối tác (Âu) không chịu thua mà tìm đủ mọi cách phá vỡ vòng kim cô USD để tránh bị phong tỏa kinh tế[3] lại điểm trúng tử huyệt của nền trật tự tự do toàn cầu (liberal world order) do Mỹ gầy dựng trên nền móng USD. Giải pháp nào sẽ hất ngã USD trong khi cả NDT lẫn Euro đều còn ít đáng tin hơn USD? Dưới đây là vài phỏng đoán thay vì dựa trên chứng cớ vững vàng.

Giữa Trung Quốc, Nga và Iran đều thiết lập những đường dây hoán đổi ngoại tệ (currency swap) mà không thông qua hệ thống ngân hàng Mỹ. Thí dụ Iran bán dầu thu vào NDT rồi dùng NDT nhập cảng máy điện toán từ Trung Quốc (với điều kiện các máy điện toán này không chứa đựng bản quyền Mỹ trong đó.) Ngân hàng Iran có thể đổi trước một lượng tiền nội địa ra NDT dự trữ giao dịch mà không cần chờ đợi phải thu NDT từ bán dầu mới mua hàng Trung Quốc.

Trung Quốc hiện là đối tác thương mại hàng đầu của nhiều quốc gia nên Bắc Kinh muốn biến Đông Nam Á thành khu vực mậu dịch bằng NDT: các nước Đông Nam Á mua bán lẫn nhau và với Trung Quốc dùng NDT, còn giao thương ra thế giới bên ngoài tiếp tục dùng Euro, Yen hay USD. Mô hình này có thể lan sang cả Phi Châu và Nam Á là những khu vực mà Trung Quốc có ảnh hưởng rất mạnh. Giao thương như vậy thuận tiện vì trao đổi trực tiếp trong khu vực và với đối tác thương mại quan trọng nhất bằng một đơn vị tiền chung (NDT) mà không phải đổi ra một đồng tiền thứ ba (USD, Euro.) Một nước như Việt Nam nhập siêu với Trung Quốc (thiếu NDT) mà xuất siêu với Mỹ (dư USD) có thể đổi USD ra NDT mua bán hàng từ Trung Quốc hay các lân bang.

Ant Group (thuộc Alibaba) và WeChat là hai tập đoàn tài chánh điện toán lớn và thành công nhất thế giới nhằm cung cấp dịch vụ cho vay, mở trương mục và mua bán dùng NDT - tức là giống như ngân hàng. Vì là ứng dụng trên điện thoại cầm tay nên hai tập đoàn này thâm nhập sâu trong xã hội đến từng cửa hàng nhỏ lẻ (kể cả những người bán hàng rong) hay những người tiêu thụ ở các vùng quê hẽo lánh vốn không có chi nhánh ngân hàng. Nếu Ant Group và WeChat phát triển dùng nhãn hiệu địa phương của từng quốc gia Đông Nam Á sẽ kết nối trực tiếp 655 triệu dân chúng trong vùng với thị trường sản xuất và tiêu thụ khổng lồ ở Hoa Lục, tức là thành hình một khối mậu dịch chặc chẻ hơn cả RCEP và CPTPP với xương sống là đồng NDT nhưng qua đường dây trực tiếp hoán chuyển ngoại tệ chằng chịt theo hệ thống 4G hay 5G.

Dù vậy, khả năng đồng NDT trở thành một đơn vị tiền tệ quốc tế thay thế USD rất thấp. Lý do Trung Quốc (1) kiểm soát chặc chẻ giá trị đồng NDT, (2) không muốn nợ nước ngoài, (3) không chấp nhận thâm thủng mậu dịch cho nên không đủ NDT lưu hành ra nước ngoài để trở thành trữ lượng ngoại tệ quốc tế.

Nhưng Bắc Kinh không cần thay thế USD bằng NDT. Tiền quốc tế tuy mang đến nhiều lợi lộc (exorbitant privilege) nhưng đồng thời cũng là một gánh nặng (exorbitant burden) như đã phân tích phần trên. Trái lại Bắc Kinh chỉ cần một đơn vị tiền quốc tế nào đó - không phải là NDT - để thay thế USD cũng đủ để khiến nền kinh tế Mỹ suy yếu giúp Trung Quốc đánh bại siêu cường hàng đầu trên thế giới.

Một trường hợp có thể xãy ra là Trung Quốc, Nga và Âu Châu sẽ đề nghị một loại giỏ tiền tệ điện toán quốc tế - vừa giống Bankcor của John M. Keynes lại qua hệ thống điện toán kiểu Libra của Facebook. Ưu điểm nơi không một quốc gia nào có thể thao túng tiền tệ để tạo ưu thế cạnh tranh nên dễ được thế giới chấp nhận thay thế USD. Khuyết điểm cũng chính nơi Trung Quốc không thể thao túng tiền tệ nhằm nâng đỡ bán hàng ra ngoại quốc. Cho nên giải pháp nói trên chỉ có thể xảy đến sau khi Bắc Kinh thành công chuyển đổi trọng tâm nền kinh tế Trung Quốc từ xuất cảng sang tiêu thụ nội địa.

Kinh Tế Dễ Hiểu xin thành thật thứ lổi vì đi vào các lãnh vực phức tạp thành ra…khó hiểu.

TÓM TẮT: tiền trình quốc tế hóa USD trải qua 4 giai đoạn

  1. Năm 1944 hội nghị quốc tế Bretton Woods chọn USD làm đơn vị tiền giao thương quốc tế cột vào giá trị vàng.
  2. Năm 1971 tổng thống Richard M. Nixon thả nổi đồng USD không còn neo theo vàng.
  3. Năm 1979 Saudi Arabia nhận bán dầu bằng USD nên nước nào cần mua dầu cũng phải tồn trữ USD
  4. Năm 1998 tư bản nước ngoài tháo vốn rút USD bỏ chạy khiến đồng Bhat của Thái Lan thủng đáy. Các nước Đông Á rút kinh nghiệm từ bài học khủng hoảng tài chánh Đông Á nên đẩy mạnh xuất cảng nhằm thu về và tích lũy các khoảng dự trữ USD khổng lồ để phòng vệ.
  5. Lý do USD tiếp tục nắm giữ vị trí tiền tệ quốc tế vì trong đám mù kẻ chột làm vua: Euro không vững còn NDT bị Tàu thao túng nên nước nào cũng sợ.


[1] John M. Keynes trong phái đoàn Anh đề nghị một loại tiền quốc tế gọi là Bankcor thay vì dùng USD. Bankcor là một loại giỏ ngoại tệ nên không nước nào có thể nước thao túng hối đoái nhằm tạo lợi thế cạnh tranh, nhờ vậy giữa các quốc gia sẽ không xảy ra chiến tranh thương mại. Thí dụ nếu dùng Bankcor Mỹ sẽ không bị thâm thủng với Trung Quốc và Việt Nam như từ năm 2000 cho đến nay. Nhưng cuối cùng hội nghị Bretton Wood chọn USD làm tiền quốc tế vì lý do chính trị: sau Thế Chiến thứ hai Mỹ là nền kinh tế sản xuất lớn nhất hoàn cầu còn các nước Âu Châu đều cần mua hàng và nhận viện trợ Mỹ để tái thiết. 

[2] Nếu đơn vị tiền quốc tế là Bancor (như John M. Keynes đề nghị) thì các nước không thể thao túng Bancor (vốn là một loại giỏ tiền tệ) như đã thao túng USD. Nhiều người cho rằng sau Thế Chiến Thứ Hai Mỹ khôn quá hóa dại.

[3] Âu châu phản đối Mỹ dùng USD đơn phương phong tỏa mậu dịch với Iran. Đức lại tức giận vì Mỹ đe dọa dùng USD phong tỏa các công ty Âu Châu tham dự đường ống dầu hỏa Nordstream II do Merkel-Putin hợp tác chủ trì.

Thursday, May 13, 2021

Kinh Tế Dễ Hiểu: Tiền (Chương 7)

Bàn về kinh tế không thể không nhắc đến tiền. Tiền không mua được hạnh phúc nhưng không có tiền thì…đói. Tiền mang lại tự do (có tiền mua tiên) hay biến con người thành nô lệ đồng tiền. Con nít lên 3 đã biết tiền dùng để mua bánh kẹo, vậy mà các kinh tế gia giờ này vẫn không đồng ý chuyện tiền để làm chi!

Tiền có 3 chức năng:

1.      Thước đo giá trị: hàng tốt nhiều tiền, hàng xấu ít tiền

2.      Phương tiện trao đổi: mua bán bằng tiền, chuyển tiền, đổi tiền

3.      Tích lũy tài sản: để dành tiền

Tiền không chỉ là vật thụ động mà có sức sống sinh động vì:

(1) tiền đẻ ra tiền - cho nên tích lũy của cải giàu nhanh hơn đi làm công;

(2) tiền chạy đến chổ nào sinh lời mà tránh lỗ lả - cũng giống như nước chảy xuống thấp mà tránh chổ cao.

Hỏi tiền là cái chi chi, thế gian ai cũng phải đi kiếm tiền?

1.      Tiền nhà nước (fiat money)

Mỹ in USD, Việt Nam ấn hành VND. Tiền nhà nước chỉ là…tờ giấy lộn do nhà nước phát ra nhưng lại có giá trị dùng trong mua bán, đổi chác. Vì nhà nước độc quyền in tiền nên nhà nước in…thật nhiều tiền khiến tiền mất giá, hay là lạm phát.

Để tránh lạm phát thì giá trị đồng bạc (currency) có thể bị cột neo vào vàng tức là kim bản vị. Thí dụ ngày xưa Hoa Kỳ bảo đảm 35 USD đổi ra một lượng vàng. Do lượng vàng tồn kho có hạn nên nhà nước bị trói tay không thể tùy tiện in thêm tiền. Ưu điểm nơi kiểm soát nhà nước không xử dụng bừa bải quyền lực in tiền. Khuyết điểm nơi nhà nước bị trói tay nên không dễ dàng tăng hay giảm lượng tiền lưu hành theo nhu cầu của nền kinh tế. Gặp khủng hoảng nhà nước không thể in tiền kích cầu. Khi kinh tế xuống dân chúng thường hốt hoảng đổi tiền ra vàng cho an tâm. Nhà nước sợ hết vàng phải tạm đóng cửa ngân hàng (bank holiday) hay nâng mức lời để dụ dân chúng gởi tiền thay vì rút tiền. Những biện pháp này gây tổn thương cho nền kinh tế (thị trường thiếu tiền như bị người nghẽn tim dù chỉ trong chốc lát nhưng tác hại đến toàn bộ nền kinh tế.)

Nhà nước có thể thả nổi đồng bạc thay vì cột vào vàng. Giá trị đồng tiền là do thị trường định đoạt. Thí dụ kinh tế Mỹ yếu (lẽ ra) USD xuống giá, kinh tế Việt mạnh (lẽ ra) VND tăng giá. Ưu điểm nơi nhà nước không còn bị trói tay nên nhanh chóng tăng hay giảm lượng tiền lưu hành theo nhu cầu kinh tế. Khuyết điểm vì nhà nước quen thói in tiền sinh thêm tật ăn xài khiến tiền bị mất giá tạo thành lạm phát.

Vào thế kỷ thứ 21 nhiều nước lại neo đồng bạc nội địa vào USD. Lý do vì USD là đơn vị tiền quốc tế trong khi Mỹ lại là nước mua hàng lớn nhất thế giới. Việc này dẫn đến nhiều kiểu chơi xấu như thao túng ngoại tệ (currency manipulation) nhằm tạo lợi thế xuất khẩu.

1.      Tiền điện toán (bitcoin)

 Quyền lực ấn hành tiền của nhà nước là vô hạn nên lạm dụng của nhà nước cũng vô hạn. Tiền mất giá tức lạm phát, hay tiền bốc hơi (tiền không xài mà giá trị vơi dần.)

Nếu một người trộn lẫn 5% chì vào vàng sẽ bị bắt giam về tội gian thương. Nhà nước in 100 đồng nhưng giá trị chỉ bằng 95 đồng nên gọi là chính phủ (tức chú phỉnh.)

Vì thấy bất công nên một nhân vật bí ẩn siêu phàm (chỉ biết qua tên gọi Satoshi Nakomoto mà không ai biết dung nhan) sáng chế ra bitcoin, tức là tiền điện toán. Vàng phải đào tìm từ đất, thì bitcoin cũng phải dùng máy tính điện tử để đào tìm trong không gian ảo (bitcoin mining) cứ mỗi 10 phút thì chủ một máy điện toán may mắn đẻ ra một bitcoin mới. Giá trị của bitcoin do thị trường định đoạt, bù lại số lượng bitcoin và giao dịch bằng bitcoin do các máy điện toán kiểm soát mà không qua hệ thống nhà nước hay ngân hàng. Không có hệ thống máy chủ nhưng hàng chục triệu máy điện toán tham dự đào bitcoin đều bình đẳng như  nhau (egalitarian) trong mỗi quyết định. Mỗi giao dịch bằng bitcoin được cột vào theo chuổi mã số (digital ledger hay blockchain) và được 51% trên tổng số hàng chục triệu máy điện toán này bỏ phiếu đồng ý thì mới có giá trị. Cho nên ai muốn lường gạt phải biết cách che mắt hàng chục triệu số máy điện toán này trên toàn cầu. Bitcoin được phái tự do (libertarian), những người có máu bài bạc, giới buôn lậu và chuyển tiền lậu ưa chuộng vì không bị nhà nước theo dõi mà cũng không thể bị gian lận.

2.      Tiền điện toán (digital currency)

 Bitcoin chỉ là một trường hợp đặc thù được biết đến nhiều nhất trong khi tiền điện toán nói chung có thể độc lập hay không độc lập đối với nhà nước. Các loại tiền điện toán này đang được các ngân hàng trung ương Hoa Kỳ, EU và Trung Quốc nghiên cứu thận trọng vì sẽ mở ra một kỷ nguyên và những cơ hội mới chưa thể hình dung được trong tương lai. Riêng đối với EU và Trung Quốc thi tiền điện toán còn là một giải pháp để phá vỡ vòng kiềm toả của USD.

Trong trường hợp tiền điện toán không độc lập với nhà nước thì hai đại công ty dẫn đầu trên thế giới là Ant Financial (công ty con thuộc Alibaba) và WeChat. Cả hai đều là mạng xã hội nên thu thập đầy đủ dữ kiện của từng cá nhân, cửa hàng, hay doanh nghiệp. Ant và WeChat vừa là cửa ngỏ giao dịch (khách hàng khi mua bán chỉ cần đưa máy điện thoại cầm tay để khấu trừ vào tài khoảng trên mạng) lại có thể cho các tiểu thương vay vốn một cách cực kỳ nhanh chóng so với ngân hàng. Hai công ty này cho mượn tiền mà không cần xét điểm tín dụng (credit score) bởi vì đã biết trước mỗi doanh nghiệp (hay cửa tiệm) có được bao nhiêu khác hàng ưa chuộng v.v… qua mạng xã hội. Ant và WeChat còn thêm lợi thế phục vụ doanh nghiệp và người tiêu thụ ở những vùng nông thôn hẻo lánh không có văn phòng ngân hàng vì người dân vẫn dùng điện thoại cầm tay. Vốn cho vay có thể hợp tác với ngân hàng hay trực tiếp của tư nhân cất tiền vào tài khoảng trên mạng của Ant[1] và WeChat.

 

Trường hợp tiện điện toán độc lập với nhà nước ngoài Bitcoin còn có Libra do Facebook đề nghị. Libra là một loại tiền quốc tế mỗi đồng USD, Euro và Yen tùy giá trị lên xuống sẽ đổi ra nhiều hay ít Libra (Nhân Dân Tệ hiện chưa có trong danh sách này.) Dù là quốc gia hay tư nhân đều có thể đổi ra tiền Libra để mua bán hàng hóa trên thị trường quốc tế.

 

Libra tuy chưa được nhiều chính quyền hậu thuẫn nhưng ý niệm về một loại tiền điện toán quốc tế thay thế USD, Nhân Dân Tệ, Euro…trong thương mại toàn cầu mà không qua hệ thống ngân hàng nhà nước gây chấn động trên toàn thế giới, nhất là khi loại tiền này do một công ty tư nhân như Facebook kiểm soát.



[1] Do tiềm lực của Ant Financial và WeChat quá mạnh nên vào năm 2020-21 nhà nước Trung Quốc hãm phanh thắng dằn mặt Alibaba và Jack Ma để không trở thành mối đe dọa cho hệ thống ngân hàng nhà nước. Sự việc cho đến nay (05/2021) vẫn chưa rỏ ràng ngã ngủ.

3.      Thuyết Tân Tiền Tệ (Modern Monetary Theory hay MMT)

Khi nhà nước cần thúc đẩy nền kinh tế (hay xài bậy) mà thuế thu vào không đủ thì nhà nước hoặc mượn tiền hay in tiền. Nước Mỹ vay bằng USD nên có thể in USD để trả. Như vậy thiếu hụt ngân sách (deficit) cũng không sao vì Mỹ cứ tùy tiện mượn thêm tiền bù vào khoảng trống mà không bao giờ lo quịt nợ - cho đến khi USD in ra nhiều quá mất giá khiến không nước nào còn muốn cho Mỹ vay. Nhưng hàng chục năm nay Mỹ mượn tiền ào ạt mà USD không mất giá (chưa ai “chê” USD) nên vẫn còn nhiều nước cho vay mượn với lãi xuất gần âm (tức chịu lỗ cho vay) thì Mỹ cứ mượn thêm tiền để thúc đẩy kinh tế tăng trưởng rồi thì nợ sẽ theo đó bốc hơi cạn dần.

Thuyết MMT thoạt nghe có vẻ ngụy biện nhưng có nhiều bằng chứng hùng hồn hậu thuẩn phía sau như nợ công Mỹ nhảy vọt từ 55% GDP năm 2000 lên 107% GDP năm 2021, vậy mà Hoa Kỳ không bị lạm phát trong khi lãi xuất tiếp tục ở mức cực thấp, tức là còn rất nhiều nước muốn cho Mỹ vay thêm tiền nên không đòi tăng mức lời. Kết luận của cánh cấp tiến (progressive) là Mỹ còn nhiều tiềm năng để mượn thêm nợ (rồi in USD trả nợ) nên chính quyền Hoa Kỳ có trách nhiệm phải vay thêm để thúc đẩy nền kinh tế phục hồi, để đầu tư vào năng lượng xanh (green energy) và chi tiêu tạo công bằng xã hội (wealth equality.)

Thuyết MMT quan niệm rằng vì nhà nước độc quyền in tiền nên nhà nước có trách nhiệm in thêm tiền nhằm tạo công ăn việc làm (full employment) hay cho đến khi tiền in quá nhiều sinh lạm phát (inflation.) Trên nguyên tắc nhà nước có thể mãi mãi in tiền cho đến khi lạm phát mà không cần thu thuế; trên thực tế nhà nước thu thuế nhằm hút vào lượng tiền đã in ra để không sinh lạm phát.

Thuyết MMT rất mới, lạ và kỳ quặc nhưng Kinh Tế Dễ Hiểu xin độc giả khoan vội phán đoán mà nên tìm hiểu thêm trong tinh thần cởi mở[1] [2]. Chỉ nên nhớ một điều là đừng dại dột áp dụng vào Việt Nam vì Việt Nam mượn tiền USD nên không thể in USD trả nợ như Mỹ!

4.      Lạm phát

Lạm phát tức tiền mất giá. Lạm phát thường tăng nhanh hơn lương bổng. Năm trước 8 USD mua sáu lon bia bây giờ lên đến 10 USD, tức giá bia lạm phát 25% trong khi lương chỉ tăng 3%!

Lạm phát lợi cho kẻ mượn tiền nhưng thiệt cho người cho vay. Nếu lãi xuất cố định 3% trong 30 năm nhưng mỗi năm tiền mất giá 4% thì nợ bốc hơi cạn dần. Một cách để nhà nước trả nợ là tăng lạm phát, nhưng lại khiến cho đời sống dân chúng khó khăn hơn vì lương tăng chậm hơn lạm phát. Lạm phát dẫn đến nhiều xáo trộn xã hội như châm ngòi cho trào lưu phát-xít của Hitler nên nước nào cũng e sợ lạm phát.

Lạm phát còn nguy hiểm hơn thuế má: thuế tăng ai cũng thấy, còn lạm phát giống như nhà nước nhè nhẹ móc túi khiến tiền vơi dần mà không ai để ý.

Đừng vội tin con số chính thức về lạm phát của nhà nước. Ở Mỹ lạm phát trung bình trong suốt 20 năm chỉ dưới 4% nhưng giá nhà, tiền y tế, giữ trẻ và học phí đại học nhảy vọt 100-200%. Con số lạm phát của nhà nước chỉ gồm những thứ mà người ta muốn có (wants, như quần áo, tivi, tủ lạnh lên giá chậm) thay vì những món người ta phải có (needs, như bia rượu, nhà ở, y tế, giữ trẻ, đại học giá tăng nhanh.)

Chuyện tiền bạc còn dài dài nhưng xin để dành cho những chương sau.

TÓM TẮT

a.      Tiền nhà nước (fiat money) có thể cột vào vàng hay thả nổi cho thị trường quyết định.

b.      Nhà nước in quá nhiều tiền sinh lạm phát.

c.      Tiền điện toán (bitcoin) được ưa chuộng vì không do nhà nước ấn hành mà cũng không bị nhà nước kiểm soát bởi chẳng ai tin nhà nước.

d.      Thuyết Tân Tiền Tệ có vẻ ngụy biện nhưng đừng vội chê mà hãy tìm hiểu thêm.

e.      Lạm phát là một thứ thuế của nhà nước len lén móc hầu bao dân chúng vì tiền nằm trong túi nhưng cứ nhè nhẹ cạn dần.



[1] Deficit Myth. Tác giả Stephanie Kelton

[2] Modern Monetary Theory. Tác giả L Randall Wray