Monday, November 29, 2021

Kinh Tế Dễ Hiểu: Toàn Cầu Hoá (Chương 22) & Lời Kết (Chương 23)

Người được xem khai sáng ngành kinh tế học Adam Smith đã cổ võ cho tự do mậu dịch giữa các quốc gia. Xã hội Âu Châu bắt đầu công nghiệp hóa trong thời đại của Smith. Ông quan sát trong một hảng xưởng sản xuất kim châm (pin factory) để thấy năng suất tăng vọt khi công việc được phân công ra làm nhiều khâu với chuyên môn khác nhau. Từ đó Smith mở rộng kết luận cho rằng giữa các quốc gia phải có tự do mậu dịch để sản xuất được phân phối theo ưu thế của từng nước nhằm mang đến lợi ích cho toàn thế giới, thay vì mỗi quốc gia dựng lên các rào cản thuế má hoặc theo chính sách bế quan (isolationism) hay trục lợi (mercantilism) để bảo vệ doanh nghiệp nội địa. Tên tuổi của Adam Smith giờ đây gắn liền với thị trường tự do (free market) và tự do mậu dịch (free trade.)

MẬU DỊCH HÀNG HÓA

Mậu dịch hàng hóa trên thế giới ngày nay khác với thế kỷ 18-20. Cho dù Adam Smith đã nhận thấy ích lợi của dây chuyền sản xuất nhưng mãi cho đến thập niên 1980 mua bán giữa các nước phần lớn gồm những sản phẩm đã hoàn tất như tivi, tủ lạnh, xe hơi…thay vì trao đổi theo chuổi cung ứng toàn cầu (supply chain) như hiện thời. Lý do thông tin liên lạc và vận chuyển hàng hóa còn đắt đỏ và bị nhiều rào cản cho đến khi Bức Màn Sắt sụp đổ vào cuối thế kỷ thứ 20, cùng một lúc với Internet và các chuyến tàu xuyên đại dương chuyên chở những kiện hàng container[1] trở nên phổ biến với giá rẻ thì việc phân phối sản xuất theo ưu thế của từng quốc gia mới bùn phát.

Lấy thí dụ về sản xuất xe hơi trong thế kỷ 21: thiết kế ở Mỹ, võ xe làm tại Việt Nam, chip điện toán ở Đài Loan, máy lạnh từ Trung Quốc…các bộ phận sau đó nhập cảng vào Mexico để sản xuất thành phẩm là chiếc ô-tô bán sang Hoa Kỳ. Mexico tuy là chặn cuối xuất cảng xe sang Mỹ nhưng phải nhập cảng 90% các bộ phận từ nhiều nước khác... Giả sử Mexico thu vào 30 ngàn USD từ Mỹ nhưng chi trả 25 ngàn USD mua phụ tùng từ Trung Quốc, Việt Nam, Đài Loan thì Mexico xuất siêu 30 ngàn USD với Hoa Kỳ mà chỉ giữ lại 1 ngàn USD trong nước. Trong khung cảnh phức tạp này chỉ nhắc đến mậu dịch song phương (bilateral trade) giữa hai nước chưa đủ mà cần đến cái nhìn toàn bộ về mậu dịch đa phương (multilateral trade) hay mậu dịch khu vực (regional trade). Riêng trường hợp tay bốn giữa Âu-Mỹ-Việt-Trung thì suất xiêu từ Việt Nam sang Âu-Mỹ lại tương đương với nhập siêu từ Trung Quốc vào Việt Nam; dù hàng hoá du nhập vào Việt Nam có dán nhãn từ nhiều nước Đông Á rồi sau đó bán sang Âu-Mỹ nhưng kết quả vẫn là suất xiêu từ Âu-Mỹ tuôn vào Việt Nam rồi nhập siêu đổ sang Trung Quốc. Cho nên hiểu một cách đơn giản là Mỹ tăng thuế ngăn hàng hóa Tàu thì doanh nghiệp Tàu chạy sang Việt Nam bán hàng qua Mỹ trốn thuế. Dân Tàu nhờ đông, sinh sống ở khắp nơi trên thế giới nên nền kinh tế Tàu ngày nay tổ chức như con rắn 100 đầu: chận đầu này thò đầu khác luồn lách kẽ ngõ để vào!

***

Doanh nghiệp rất ghét tồn kho vì là vốn chết nằm một chổ không sinh lời. Doanh nghiệp ngày này giảm thiểu lượng hàng tồn kho chỉ-vừa-đủ-xài (just-in-time) cho đến khi cần sản xuất hay bán hàng. Vốn không bị kẹt, dây chuyền sản xuất và phân phối hàng hóa nhờ đó được hữu hiệu hóa giúp giá thành sản phẩm được hạ thấp. Bù lại lượng hàng tồn kho chỉ-vừa-đủ-xài lệ thuộc vào các nút chận, bởi thắt nghẽn ở một nơi nào đó trên thế giới sẽ làm tê liệt toàn bộ dây chuyền sản xuất toàn cầu. Vài thí dụ gần đây gồm:

·         2011 bão lụt lớn ở Thái Lan khiến nhiều hảng xe trên toàn thế giới bị bế tắc do thiếu bộ phận sản xuất xe. Chịu ảnh hưởng nặng nhất là Toyota của Nhật.

·         03-2021 nghẽn kênh đào Suez khiến chuổi cung ứng toàn cầu bị gián đoạn gần 2 tuần

·         2021-2022 khan hiếm chip điện toán khiến các hảng xe và sản xuất điện thoại bị thiệt hại nặng nề hàng chục tỷ USD

Rút từ những bài học nói trên nên Hoa Kỳ và Âu Châu đang tìm nhiều giải pháp tránh thắt nghẽn như (1) đa phương hóa nguồn cung ứng (2) hồi hương ngành sản xuất về nước hay trong khu vực (3) tăng tồn kho[2]. Những biện pháp này đều tốn kém, cần nhiều thời gian cho nên trong nhiều trường hợp thiếu thực tế.

Các nút chận về mậu dịch rở thành vũ khí địa chính trị. Vài thí dụ như:

·         2010 Trung Quốc ngưng bán đất hiếm sang Nhật để trả đủa tranh chấp quần đảo Senkaku khiến các hảng điện tử Nhật chới với.

·         2020 Mỹ ngăn chận xuất cảng các chip điện toán sang các công ty liên hệ đến ngành quốc phòng ở Trung Quốc khiến Huawei bị thiệt hại nặng nề.

Các nhà quan sát đều cho rằng:

(1)   trong khi Mỹ tìm cách đem các ngành công nghệ chiến lược ra khỏi Trung Quốc,

(2)   ngược lại Trung Quốc đầu tư ồ ạt vào các ngành công nghệ chiến lược để không còn bị lệ thuộc vào Hoa Kỳ.

Người Mỹ gọi đây là decoupling (tách đôi Mỹ-Trung) hay là giai đoạn chạy đua nước rút quyết định tranh hùng Mỹ-Trung trong thế kỷ 21. Khó xử cho những nước còn lại nếu phải vỗ tay chọn một phe. Riêng Việt Nam khôn khéo đi hàng hai mà không bắt cá theo bên nào, chỉ đợi “trâu bò hút nhau, ruồi muỗi hút máu!”

***

Mậu dịch toàn cầu có lợi cho các địa phương nằm ven biển mà thiệt hại cho dân cư nội địa, cho dù là ở Mỹ (Cali, New York giàu hơn Trung-Mỹ), Tàu (Thượng Hải, Thẩm Quyến giàu hơn nội-Trung)[3]. Bên Tàu hay Việt Nam tuổi trẻ nông thôn di cư hàng loạt lên thành thị tìm việc làm. Nước Mỹ sau khi giàu có dân chúng mọc rễ có nhà cửa, gia đình, hàng xóm…không còn muốn tha phương cầu thực như thời đi lập quốc. Khi hảng xưởng dời ra nước ngoài thì dân Mỹ ở vòng đai han rĩ (rust bell) không cần thiết di cư hàng loạt ra vùng duyên hải tìm kiếm việc làm trong các điều kiện khắc khổ, thay vào đó sống nhờ trợ cấp welfare. Kết quả là số người thất nghiệp hay với đồng lương thấp sống tập trung vào nội địa tạo thành một lực lượng chính trị quan trọng chống toàn cầu hóa và bỏ phiếu cho Trump năm 2016-2020.

***

Tự do mậu dịch dựa trên hàng hóa được trao đổi một cách công bằng mà không bị những rào cản thuế quan hay chính sách bảo hộ ngăn cản. Mậu dịch thiếu công bằng khiến chênh lệch nghiêm trọng trong cán cân thương mại Mỹ-Trung.

Các công ty Trung Quốc đều có tổ sinh hoạt đảng chỉ cần nói miệng ưu tiên mua hàng Tàu cũng đủ để tạo lợi thế cạnh tranh cho hàng hóa nội địa mà không cần đến những văn bản thuế quan hay bảo hộ nhằm tránh thưa kiện lên WTO.

Công ty Tây Phương muốn hiện diện ở Trung Quốc bị bắt buộc phải hùn với công ty Tàu, lý do Bắc Kinh muốn tìm cơ hội đánh cắp công nghệ cho đến khi mọc đủ lông cánh rồi vắt chanh bỏ vỏ loại công ty nước ngoài ra khỏi Trung Quốc. Trong lần thương chiến Mỹ-Trung năm 2019 Trump quyết liệt đòi Trung Quốc hủy bỏ điều kiện này, nhưng Bắc Kinh cương quyết không kém chỉ đồng ý ghi trên văn bản thỏa thuận mà không quy định thành luật pháp. Cho đến năm 2020 thương chiến nguôi bớt vì dịch cúm Tàu, năm 2021 đến thời Biden không biết vụ này sẽ kết thúc ra sau.

***

Mậu dịch toàn cầu chênh lệch có thể giải thích như khoảng cách giữa tiết kiệm (nước xuất siêu) và tiêu thụ (nước nhập siêu.) Còn muốn  dễ hiểu thì dùng truyện ngụ ngôn con kiến cần cù tích trữ trong khi con ve sầu không biết lo xa cứ mãi vui chơi ca hát.

Mức tiết kiệm ở Tàu chiếm 45% GDP còn ở Mỹ chỉ dưới 10% GDP. Một phần do dân Tàu tiện tặng hơn dân Mỹ (những người lớn tuổi còn nhớ đến cảnh nghèo đói thời Mao), phần khác do nhà nước hạn chế tiêu thụ nội địa (consumption suppression) bằng cách chi tiêu thấp vào mạng lưới an sinh xã hội (giáo dục, y tế, hưu bổng và lương thất nghiệp); tiền trợ cấp ít nên dân chúng phải tự túc lo xa bằng cách để dành tiền giáo dục con cái, phòng khi bệnh hoạn, thất nghiệp hay lúc tuổi già. Nhà nước huy động nguồn tiết kiệm từ dân chúng dùng làm dòng vốn đầu tư vào hạ tầng hay cho doanh nghiệp vay mượn với giá rẻ nhằm hổ trợ xuất cảng.

Tiêu thụ ở Tàu chiếm 40% GDP còn ở Mỹ 70% GDP. Trợ cấp xã hội ở Mỹ khá hơn bên Tàu nhưng không bằng Âu Châu, tuy nhiên dân Mỹ vẫn thích ăn xài vì dễ vay mượn tín dụng. Nguồn tín dụng dồi dào đến từ các nước xuất siêu (Trung Quốc, Việt Nam, Nhật, Đức, Saudi Arabia,…) dư tiền cho Mỹ mượn để mua hàng. Thực tế này tuy nghịch lý nhưng nước sản xuất bán hàng mà không có Mỹ tiêu thụ thì…chết cứng!

Tình trạng chênh lệch mậu dịch không thể kéo dài mãi mãi. Hoa Kỳ sẽ có lúc bớt tiêu xài (thí dụ sau Đại Khủng Hoảng 2007-08) hoặc không còn ai dám cho vay nợ. Mỹ bớt nhập cảng thì Tàu thặng dư xuất cảng. Sản xuất dư thừa thì dòng vốn đầu tư ở Tàu phải mất hiệu quả do bơm vào nợ xấu hay bong bóng địa ốc.

Hai nước Mỹ-Trung không dễ thoát ra thế kẹt nói trên.  Tiêu thụ bên Mỹ chiếm 70% GDP còn địa ốc ở Tàu là 25% GDP. Muốn cắt tiêu thụ ở Mỹ, hay xì bong bóng địa ốc bên Tàu thì GDP phải thụt giảm tức là kinh tế suy thoái. Cho nên Mỹ cứ tiếp tục ăn xài còn Tàu tiếp tục bơm bong bóng - Mỹ gọi là “kick the can down the road” (hay là chuyện để cho con cháu mình lo.)

***

Chênh lệch mậu dịch còn do thao túng ngoại tệ (currency manipulation.) Mỹ nhập siêu với Việt Nam lẻ ra USD phải mất giá so với VND. Nhưng Việt Nam thu USD vào không cho lưu hành mà bỏ trong quỹ dự trữ ngoại tệ theo kiểu đấp đập chứa nước mưa. Đập cản nước khiến hạ nguồn thiếu nước cũng giống như USD bị cản trở thành khan hiếm. USD khan hiếm thì giá USD bị ngăn chận ở mức cao so với VND.

VN vay nợ nước ngoài và nhập cảng máy móc, xăng dầu dùng USD. Việt Nam cần dự trữ USD cho 3-6 tháng hàng nhập cảng phòng khi sự cố và trường hợp chảy máu ngoại tệ. Mỗi nước đều cần đến quỹ dự trử ngoại tệ cũng như mỗi gia đình giữ một ít tiền mặt. Nhưng rồi giống như ông cha hà tiện thu tiền lương của con cái đi làm rồi cất giữ trong kho bạc mà không chịu chia ra cho con cái tiêu xài, khi quỹ ngoại tệ quá lớn tức là nhà nước không chi tiêu đủ vào an sinh xã hội nhằm nâng cao mức sống dân chúng. Việt Nam kềm giá VND nhưng phải nhập cảng xăng dầu bằng USD. Xăng dầu bị mua giá cao khiến hàng hóa tiêu dùng trong nước trở thành đắt đỏ, dân chúng bớt tiêu xài. Như vậy quỹ dự trữ lớn lại cũng là một cách để nhà nước hạn chế tiêu thụ trong nước (consumption suppression) nhằm giúp doanh nghiệp tạo lợi thế cạnh tranh khi xuất cảng.

NGUỒN VỐN LƯU ĐỘNG

Tự do mậu dịch vào thời Adam Smith chỉ gồm trao đổi hàng hóa, nhưng đến thế kỷ thứ 21 còn thêm nguồn vốn lưu động luồn lách đi khắp thế giới.

Một người Pháp trước đây muốn xây cất đồn điền cao su phải dọn nhà sinh sống lâu dài ở Việt Nam chớ rất ít cơ hội sống bên Pháp mà bỏ vốn hùn hạp làm ăn ra nước ngoài. Ngày nay dân Mỹ dễ dàng đầu tư vào bitcoin, thị trường địa ốc, trái phiếu và chứng khoán ở một quốc gia khác bằng cách mua bán trực tiếp trên sàn hay gián tiếp thông qua các công ty đầu tư, bảo hiểm hay hưu trí. Giả sử mua chứng khoán Ai Cập không tăng giá thì bán ra để mua vào chứng khoán Việt Nam, cho nên dòng vốn nói trên lưu động khắp thế giới từ nước này sang nước nọ để kiếm lời cũng giống như nguồn nước luồn lách tìm chổ thấp chảy vào. Nếu nước chảy sinh ra lụt lội hay khô cạn thì nguồn vốn lưu động cũng dẫn đến nhiều bất ổn:

·         Đầu thập niên 1990 bong bóng địa ốc ở Nhật phát nổ. Giới đầu tư quốc tế chuyển dòng tiền vào Thái Lan với hy vọng nắm đuôi con rồng thứ 6 ở Đông-Á trước khi cất cánh. Tiền vô ào ạt bơm lên bong bóng ở Thái Lan cho đến lúc đồng Bhat phá giá vì bị giới đầu cơ tiền tệ tấn công. Bóng vỡ sinh ra cuộc Khủng Hoảng Tài Chánh Đông-Á 1988, rồi lan tràn đến Đông-Âu và Nam-Mỹ.

·         Sau ba vố đau nói trên giới đầu tư quốc tế đổ tiền vào ngành địa ốc ở Mỹ do tin tưởng vào tài năng quản lý tiền bạc của nền kinh tế tư bản hàng đầu thế giới trong khi giá nhà bên Mỹ chỉ tăng mà không giảm. Các tay phù thủy tài chánh Hoa Kỳ mê hoặc giới đầu tư bằng bùa phép thần kỳ như Mortgage Backed Security (MBS) và Credit Default Swap (CDS) mãi đến lúc cuộc Đại Khủng Hoảng Tài Chánh 2007-08 nổ tan tành thị trường mới thức tỉnh đang khuấy nước thành hồ. Trận địa chấn lan rộng sang Âu Châu khi các ngân hàng Đức và Bắc Âu cũng nhắm mắt đầu tư bừa bãi vào Nam Âu sinh ra Khủng Hoảng Euro 2010-12.

·         Do cuộc Đại Suy Trầm 2007-12 nên Âu-Mỹ giảm nhập cảng từ Trung Quốc khiến Bắc Kinh năm 2008 phải tung ra một gói kích cầu khổng lồ trị giá 12.5% GDP để cứu vớt nền kinh tế. Tàu lúc đó được khen là đầu máy kéo thế giới ra khỏi khủng hoảng. GDP tăng trưởng 10% nên Tàu ồ ạt nhập cảng nguyên vật liệu giúp Úc và Nam-Mỹ không bị suy thoái do khủng hoảng Âu-Mỹ. Đầu tư ở Tàu tăng nhưng xuất cảng giảm nên tiền kích cầu bơm lên bong bóng địa ốc. Từ năm 2016 Tàu bị chê là quản lý kinh tế kém khi chính gói kích cầu nói trên sinh ra núi nợ khổng lồ 300% GDP.

Trong khi nguồn vốn nước ngoài đầu tư trực tiếp (FDI) vào hạ tầng và hảng xưởng nằm chết một chổ, ngược lại nguồn vốn lưu động luồn lách từ nước này sang nước khác sinh ra bất ổn. Các nước trong cùng một khu vực thường phát triễn theo chung một khuông mẫu (thí dụ Đông Nam Á bán quần áo và đồ điện tử; Nam Mỹ xuất cảng nguyên vật liệu; Trung Đông bán dầu hỏa; Nam Âu xây nhà thu hút khách du lịch) cho nên nguồn vốn lưu động một khi tháo chạy khỏi một nước thường lây lan ra toàn khu vực khiến khủng hoảng tài chánh nguy hiểm như một đóm lửa nhỏ sinh ra trận cháy rừng. IMF trước đây cho là nguồn vốn nào cũng tốt nhưng sau nhiều bất ổn trên thế giới bắt đầu đổi ý khuyến khích FDI thay vì vốn lưu động.

Trung Quốc thu hút đầu tư trực tiếp (FDI) nhưng kiểm soát dòng vốn lưu động bằng cách (1) ít vay mượn nước ngoài, (2) kiểm soát công ty ngoại quốc hoạt động trong ngành tài chánh ngân hàng, (3) giới hạn chuyển ngoại tệ ra nước ngoài. Dòng vốn đầu tư trong nước chủ yếu từ tiết kiệm của dân chúng. Dân Tàu gởi tiết kiệm vào ngân hàng nhà nước với phân lời thấp. Ngân hàng nhà nước biến tiết kiệm thành nguồn vốn giá rẻ cho các công ty quốc doanh và tập đoàn ưu đãi vay mượn. Những tập đoàn thế lực mua lại quyền xử dụng đất đai “của toàn dân” do các chính quyền địa phương ưu đãi sang nhượng, sau đó khai thác rồi cầm cố đất đã phát triển cho các ngân hàng địa phương để vay mượn vốn mới làm ăn cú khác. Cho nên khủng hoảng tài chánh ở Trung Quốc không do tư bản nước ngoài giựt dây mà nơi chính tư bản đỏ trong nước tận dụng ưu thế độc quyền phân phối vốn và đất đai sinh ra nợ xấu và bong bóng địa ốc.

Nguồn vốn lưu động trên thế giới đến từ nhiều phía:

·         Các quỹ đầu tư, hưu trí và bảo hiểm Âu-Mỹ.

·         Khối các nước bán dầu hỏa như Nga, Na Uy và Trung Đông.

·         Thặng dư mậu dịch giữa các nước tiết kiệm (Đức, Đông Á) và những nước tiêu thụ (Hoa Kỳ, Nam Âu). Một phần tiền dùng cho dự trữ an toàn bằng cách mua nợ công của Mỹ, Nhật, Anh,…phần còn lại bỏ vào các quỹ đầu tư quốc gia (Sovereign Wealth Fund) mua bán chứng khoán, các công ty nước ngoài hoặc đầu tư địa ốc. 

Dòng vốn lưu động còn được giải thích do tình trạng dư thừa tiết kiệm (savings glut) từ 3 nguồn nói trên. Nhà nghèo có bao nhiêu tiền xài hết; nhà giàu xài không hết mới để dành tiền. Nếu tiền của chia đều ra cho mọi người đều…nghèo thì không còn dư thừa tiết kiệm tức giải quyết được dòng vốn lưu động.

LỜI KẾT

Đến đây là chấm dứt loạt bài Kinh Tế Dễ Hiểu. Tác giả sẽ chấn chỉnh và bổ túc thành quyễn sách Kinh Tế Dễ Hiểu trong vài tháng tới.

Tác giả Đoàn Hưng Quốc (tên thật Đoàn Văn Tân) hiện hành nghề kỹ sư ở tiểu bang Texas, Hoa Kỳ. Học kinh tế chỉ có 1 lớp Econ 101 hơn 30 năm trước – cho đến nay thì chữ nghĩa của thầy đã trả lại thầy để thầy còn vốn mà dạy sinh viên khác. Tác giả bắt đầu quan tâm đến ngành kinh tế tài chánh vì thua lổ chứng khoáng trong cuộc Đại Suy Trầm 2007-08, lúc đó làm việc liên quan đến toàn cầu hóa trong ngành sản xuất điện thoại cầm tay mà trong đầu cứ nhớ câu nói “follow the money” - phải theo dõi dấu vết của đồng tiền mới rõ tiền nhân hậu hoạn của sự việc.

Người dân Việt Nam cho đến thập niên 1980 chỉ biết đến đổi tiền và lạm phát. Cho đến thế kỷ thứ 21 một chị bán hàng rong cũng bàn về toàn cầu hóa, kích cầu, khủng hoảng tài chánh, bong bóng địa ốc, lãi xuất ngân hàng, bitcoin…Dân Việt thích uống cà phê đọc báo bàn chuyện trên trời dưới đất cho nên Kinh Tế Dễ Hiểu không ngoài mục đích góp đề tài tán gẩu…mua vui cũng được một vài trống canh.

Gọi là Kinh Tế Dễ Hiểu nhưng các đề tài tinh vi, phức tạp và hiện đại. Vì mỗi chương có thể phóng thành 1 quyễn sách nên Kinh Tế Dễ Hiểu do quá ôm đồm chắc chắn nhiều thiếu sót. Nếu phê bình theo kiểu Mỹ là thiếu nghiên cứu và dẫn chứng nghiêm ngặt (rigorous) nên sai lệch và dễ bị tấn công. Nhưng nghiêm ngặt thì không còn dễ hiểu, cho nên tác giả chọn dễ hiểu hơn là nghiêm ngặt.

Giả sử người đọc phê phán “ông này viết sai” hay “cái này không biết có đúng không, để tìm hiểu thêm” thì tác giả đã hoàn tất mục đích của mình tức là kích thích óc tò mò, phê phán và tư duy độc lập (critical thinking) bởi vì trong kinh tế không có khuông vàng thước ngọc. Người đi trước phải chấp nhận bị kẻ đi sau phê bình chỉ dạy.

Tác giả từng sống trong Thiên Đường Xã Hội Chủ Nghĩa Việt Nam, sang Mỹ lại thấy cảnh lạm dụng trợ cấp xã hội nên đâm ra dị ứng với vai trò của nhà nước lạm quyền trong kinh tế. Cho dù biết rằng vai trò của nhà nước không thể bị phủ nhận nhưng lúc cãi lý vẫn thiên về quan điểm của cánh tự do cá nhân (libertarian). Đây là khuyết điểm của tác giả, đành xin đón nhận mọi phản pháo từ độc giả.

Từ ngữ tiếng Anh dùng trong sách báo kinh tế rất linh động và phong phú. Thí dụ chử “socialism” do người Mỹ dùng hàm nhiều ý nghĩa khác biệt với xã hội chủ nghĩa của Việt Nam. Người viết hàng ngày đọc sách báo Mỹ nên dù viết tiếng Việt vẫn phải kèm trong ngoặc đơn các từ tiếng Anh để suy nghĩ được mạch lạc. Tác giả hy vọng độc giả Việt Nam đọc báo Mỹ cũng nhờ đó mà theo dõi được những tranh luận bên Mỹ.

Lời cuối: sách Kinh Tế Dễ Hiểu sẽ được đúc kết chấn chỉnh còn hay hơn các bài trên báo!



[1] Kiện hàng container có nguồn gốc từ chiến tranh Việt Nam khi quân đội Mỹ cần chở đủ thứ vật dụng lỉnh kỉnh cho hậu cần. Cách thuận tiện nhất là gom góp đủ loại món hàng lớn nhỏ vào một kiện container bằng thép, chất lên tàu lớn cùng chung với hàng trăm kiện container khác rồi chuyên chở xuyên đại dương. Khi lên bờ các kiện container nhờ kích thước giống nhau được chất lên toa xe lửa hay gắn sau xe vận tải 18-bánh để chuyên chở phân phối đến điểm đến.

[2] Doanh nghiệp có 2 nhu cầu đối nghịch: hữu hiệu (efficiency) hay lo xa (redundancy). Hữu hiệu là tồn kho chỉ-vừa-đủ-xài để không bị kẹt vốn. Dư thừa tức là lo xa dự trữ phòng thiếu hụt nhưng lại chết vốn!

[3] Nước Đức là một trường hợp đặc biệt tuy không có nhiều cảng tốt nhưng lại là cường quốc mậu dịch, cho nên Đức rất chú trọng đến EU như cửa ngỏ thoát ra thế giới.

Wednesday, November 10, 2021

Kinh Tế Dễ Hiểu: lịch sử kinh tế nước Mỹ (chương 21)

 Nền kinh tế nước Mỹ chia thành 4 giai đoạn dưới ảnh hưởng của 3 kinh tế gia lổi lạc: 

  1. Lập quốc cho đến thập niên 1929: bàn tay vô hình điều hướng thị trường tự do theo Adam Smith
  2. Thập niên 1930 cho đến 1980: bàn tay của nhà nước can thiệp vào thị trường theo John M. Keynes
  3. 1980-2007: thị trường tự do theo Adam Smith nhưng với Ngân Hàng Trung Ương (NHTƯ) quản lý chính sách tiền tệ theo Milton Friedman.
  4. 2007 cho đến: nhà nước can thiệp vào thị trường theo John M. Keynes cùng với NHTƯ quản lý chính sách tiền tệ theo Milton Friedman.

Cho dù Karl Marx không hiện diện mạnh ở Mỹ nhưng tư tưởng Marx ảnh hưởng đến xã hội và kinh tế của Hoa Kỳ từ cuối thế kỷ thứ 18 (giai đọan cực thịnh của nền tư bản Mỹ) cho đến 1929 (Đại Khủng Hoảng Kinh Tế Toàn Cầu).

MỸ (1779-1929) VÀ ADAM SMITH (Luận Bàn về Của Cải Quốc Gia, 1779)

Nước Mỹ ra đời vào năm 1779 tức là cùng năm với quyển sách Luận Bàn về Của Cải của Các Quốc Gia (The Wealth Of Nations) của Adam Smith - người vốn được xem là ông tổ bộ môn kinh tế học. Smith cho rằng thị trường phải được vận hành tự do thì mọi người mới vì tư lợi mà hăng hái làm việc, tạo ra của cải và trao đổi hàng hóa khiến quốc gia trở nên thịnh vượng. Nhà nước chỉ có vai trò hạn hẹp để giữ trật tự (chống gian lận, đầu cơ, ăn cướp…) nhưng không can thiệp vào sự vận hành của thị trường tự do.  

Quan điểm về thị trường tự do và quyền tự do cá nhân của Adam Smith phù hợp với người di dân lập quốc ở Tân Thế Giới. Hoa Kỳ là mảnh đất của những kẻ trốn chạy nạn đàn áp ở châu Âu. Nước Mỹ lại vừa dành độc lập từ Vương Quốc Anh cho nên dân chúng Hoa Kỳ mang tinh thần tự lập đi khai phá những chân trời mới. Nhà nước dựng lên chỉ để bảo vệ an ninh lãnh thổ và thi hành luật pháp mà không được quấy nhiễu dân chúng tự do làm ăn. Bài nhạc nổi tiếng The Star-Spangled Banner với lời ca bất hủ “the land of the free and the home of the brave” (mảnh đất của tự do, mái nhà của những người can đảm) thể hiện tính tự hào và độc lập đó.

MỸ (1860-1929) VÀ KARL MARX (Tư Bản Luận, 1867)

Nền tư bản Âu-Mỹ tiến lên giai đoạn cực thịnh vào cuối thế kỷ 19 song song với hai trào lưu công nghiệp hóa và đô thị hóa.  Thời Đại Vàng Mã (Gilded Age[1]) từ 1860-1896 ở Mỹ là giai đoạn giàu sang hào nhoáng bên cạnh các bất công sâu sắc cùng với khoảng cách giàu nghèo tăng vọt trong xã hội. Nước Mỹ có 24 ông Trùm (robber barons) trong các ngành dầu hỏa Rockefeller, đường sắt Standford, luyện kim Carnegie và tài chánh ngân hàng J.P. Morgan vừa chi phối nền kinh tế lại khuynh đảo quyền lực chính trị.

Đây cũng chính là lúc Karl Marx cho ra đời quyễn Tư Bản Luận (1867) ở Âu Châu tố cáo giới chủ bóc lột thợ thuyền và kêu gọi cách mạng vô sản lật đổ chế độ tư bản.

Tiếp nối Thời Đại Vàng Mã là Kỷ Nguyên Cấp Tiến (Progressive Era, 1896-1920) trong đó nền báo chí tự do Hoa Kỳ (tên gọi Muckraker) phơi trần các cấu kết giữa giới tài phiệt và quan chức nhà nước nhằm thúc giục quần chúng tranh đấu đòi tổ chức công đoàn và cải tổ luật lao động. Năm 1922 Lenin thành lập Liên Bang Xô-Viết, nước Nga[2] trở thành hình mẩu cho thiên đàng vô sản. Phong trào cộng sản quốc tế trổi lên thu hút giới cấp tiến và công nhân ở Mỹ. Cho dù Marx không hiện diện trực tiếp nhưng bóng dáng của Marx lảng vảng chi phối đến các cải cách kinh tế và lao động ở Mỹ trong giai đoạn này.

MỸ (1930-1980) VÀ JOHN M. KEYNES (Lý Thuyết Tổng Quát, 1936)

Sự ra đời của Liên Bang Xô-Viết (1922) và cuộc Đại Khủng Hoảng Kinh Tế Toàn Cầu (1929) khiến chủ nghĩa cộng sản càng trở nên hấp dẫn thu hút giới công nhân thợ thuyền ở Mỹ. Ngược lại bên Âu Châu dân Đức uất ức với những điều kiện nghiệt ngã do phe thắng trận Anh-Pháp áp đặt trong Hoà Ước Versailles (1919); nạn lạm phát phi mã (1923) khiến nước Đức ngã theo Phát Xít rồi sau này đem đến Thế Chiến Thứ Hai.

Chủ nghĩa tư bản có vẽ đang sụp đổ theo đúng như lời tiên tri của Marx-Lenin. Năm 1936 John M. Keynes cho ra đời quyển Lý Thuyết Tổng Quát về Công Ăn Việc Làm, Lãi Xuất và Tiền Tệ) lập luận rằng một khi nền tư bản không tự điều chỉnh được thì bàn tay hữu hình của nhà nước phải can thiệp để tạo công ăn việc làm nhằm ổn định nền kinh tế và tránh bạo loạn xã hội vốn sẽ dẫn đến cách mạng, độc tài, phát xít, cộng sản hay chiến tranh. Keynes chủ trương nhà nước dùng các biện pháp tài chánh (fiscal policy, gồm tăng chi ngân sách và giảm thuế) để kích cầu theo kiểu mồi xăng cho máy nổ thoát ra khủng hoảng.

Năm 1932 Tổng Thống Franklin D. Roosevelt đắc cử ở Mỹ với chương trình New Deal (1933-1939) gồm:

  • nhà nước chi tiêu đầu tư xây cất hạ tầng nhằm tạo công ăn việc làm;
  • nhà nước xây dựng mạng lưới an sinh xã hội (safety net) để hổ trợ thất nghiệp và lương hưu trí;
  • nhà nước giám sát hệ thống ngân hàng (Glass-Steagall Act);
  • nhà nước cải tổ luật lao động và công đoàn;
  • nhà nước tăng thuế nhà giàu hổ trợ cho nhà nghèo.

Chi tiêu và vai trò của nhà nước tăng vọt. Mô hình kinh tế nước Mỹ biến đổi với bàn tay hữu hình của nhà nước can thiệp vào thị trường theo John M. Keynes. Phe chống đối cho rằng bàn tay nhà nước một khi đã thò dọc (government intervention) sẽ lạm quyền (government overreach) bóp méo thị trường tự do (market distortion) và xâm phạm đến quyền tự do cá nhân[3], tức là con đường trá hình đi đến xã hội chủ nghĩa.

***

Sau Thế Chiến Thứ Hai nền kinh tế Mỹ đứng hàng đầu và chiếm 40% GDP toàn thế giới vào năm 1960. Tổng Thống Lyndon B. Johnson (đảng Dân Chủ) nhậm chức phát động Cuộc Chiến Chống Nghèo Đói (War Against Poverty, 1964) cùng lúc với nước Mỹ sa lầy vào chiến tranh Việt Nam.

Johnson mở rộng mạng lưới xã hội (safety net, cho thất nghiệp và hưu trí) thời Roosevelt trở thành chế độ nhà nước phúc lợi (welfare state, bao gồm trợ cấp nhà nghèo (welfare), trợ cấp nhà ở (housing), trợ cấp thực phẩm (food stamp), trợ cấp y tế (medicare).) Safety Net là trợ cấp lúc hoạn nạn; Welfare State là nhà nước bao cấp tạo ra sự ỷ lại, lười biếng và lạm dụng. Chế độ nhà nước bao cấp bị tố cáo là nhà nước lạm quyền dùng chiêu bài bình đẳng xã hội để thò tay can thiệp bóp nghẹt thị trường tự do và tiến lên xã hội chủ nghĩa.

MỸ (1980-2007) VÀ MILTON FRIEDMAN

Chiến tranh Việt Nam và Cuộc Chiến Chống Nghèo Đói vô cùng tốn kém khiến ngân sách nước Mỹ thâm thủng nặng nề. Đồng đô-la lúc đó đổi 35 USD ra 1 lượng vàng, các nước Âu Châu sợ Mỹ hết vàng đòi rút vàng về nước. Năm 1971 Tổng Thống Richard M. Nixon tuyên bố Mỹ “tạm” ngưng neo giá trị USD vào vàng (từ bỏ kim bảng vị). Nhà nước Hoa Kỳ từ đó được rộng tay in USD tiêu xài. Lượng tiền tăng nhanh, đến năm 1973 lại thêm gặp khủng hoảng dầu hỏa khiến giá cả nhảy vọt. Lạm phát lên đến 15% năm 1980 (so với 1.25% năm 2021.)

Năm 1979 Thống Đốc Ngân Hàng Paul Vocker thắt chặt lượng tiền lưu hành bằng cách tăng lãi suất chỉ đạo lên 20% (so với 0.25% năm 2021) để kềm chế lạm phát. Tuy khuất phục được lạm phát nhưng giá đắt phải trả là nạn thất nghiệp 10% và kinh tế suy thoái 1980-1982.

Năm 1981 Tổng Thống Ronald Reagan nhậm chức với chủ trương cắt giảm vai trò của nhà nước để giải phóng sức mạnh hung hãn (animal spirit) của tư nhân và thị trường tự do không còn bị bóng dáng nhà nước che phủ. Reagan tuyên bố câu bất hủ “Government is not the solution to our problem, government is the problem” (Nhà nước không phải là lời giải đáp bởi vì nhà nước chính là gánh nặng.)

Chủ trương của John M. Keynes về bàn tay hữu hình của nhà nước can thiệp vào kinh tế mờ nhạt và bị thay thế bởi Milton Friedman. Friedman thuộc phe tự do cá nhân (libertarian) chống đối quyền lực của nhà nước đặt trên tự do cá nhân và chủ trương nhà nước không can thiệp vào thị trường tự do. Friedman lại khai triển lý thuyết tiền tệ (monetarism) cho rằng Ngân Hàng Trung Ương (NHTƯ) phải hổ trợ nền kinh tế bằng cách giám sát lãi xuất và lượng tiền lưu hành, kiểu như khi cổ xe kinh tế chạy chậm thì tài xế (NHTƯ) nhấn ga bơm xăng (bơm tiền và hạ lãi xuất) đến khi xe vọt ngon trớn lại buông ga bớt xăng (để tránh lạm phát.)

Tưởng cũng nên phân biệt giữa John M. Keynes và Milton Friedman:

·         Keynes: nhà nước tăng giảm chi tiêu nghịch chu kỳ (counter-cyclical spending) bằng biện pháp tài chánh (fiscal policy, gồm ngân sách và thuế khóa);

·         Friedman: NHTƯ tăng giảm lãi xuất và lượng tiền lưu hành nghịch chu kỳ bằng chính sách tiền tệ (monetary policy).

Nhưng NHTƯ chẳng qua chỉ là nhà nước? Khác nhau ở chổ:

1.      NHTƯ là một cơ quan chuyên môn không có quyền lực chính trị như nhà nước. Chính sách tiền tệ của NHTƯ có thể quá trớn nhưng không thể quá đà như nhà nước lạm dụng quyền lực chính trị vi phạm đến tự do cá nhân và của cải của dân chúng.

2.      NHTƯ thuần túy lo về kinh tế (lạm phát và công ăn việc làm), trong khi các vấn đề xã hội như bình đẳng màu da, giàu nghèo phải do các đại diện dân bầu quyết định.

3.      NHTƯ là một cơ quan độc lập để không bị nhà nước biến trở thành một công cụ chính trị (thí dụ nhà nước không thể thúc NHTƯ hạ lãi suất nhằm mua chuộc lá phiếu trong mùa bầu cử.)[4]

Như vậy nguyên tắc độc lập của NHTƯ không chỉ trong phạm vi kinh tế mà còn hàm ý nghĩa chính trị.

Tóm lại từ năm 1980 (Reagan) cho đến 2007 (Đại Khủng Hoảng Tài Chánh):

  • John M. Keynes (fiscal policy) rời sân khấu
  • Milton Friedman (monetary policy) thành kép chính.

Nhạc công (maestro) nổi tiếng nhất trong giai đoạn này là Thống Đốc NHTƯ Alan Greenspan điều chỉnh lãi xuất chỉ đạo. Thị trường theo dõi canh me cặp-táp ông xách đi họp, dày cộm thì hạ giá chứng khoáng (ông có nhiều chuyện bàn) còn mỏng thì tăng giá (chẳng có gì để nói.)

MỸ (2007 cho đến nay)

Từ năm 2007-2020 nước Mỹ bị 2 cú sốc gần chết nên đem cả John M. Keynes và Milton Friedman cùng lên sân khấu.

Cú sốc thứ nhất khi đầu cơ địa ốc dẫn đến Đại Khủng Hoảng Tài Chánh 2007-2008.

  • Nhà nước dùng biện pháp tài chánh (fiscal policy) tung ra gói cứu nguy (TARP 2008, 700 tỷ USD) và gói kích cầu (ARRA 2009, 831 tỷ USD);
  • NHTƯ dùng chính sách tiền tệ (monetary policy) bơm tiền (Quantitative Easing) và giữ lãi suất thấp

Cú sốc thứ nhì với Đại Dịch Vũ Hán năm 2020:

  • Nhà nước dùng chính sách tài chánh tung ra 2 gói cứu trợ (Trump 2020, 2200 tỷ USD; Biden 2021, 1900 tỷ USD);
  • Biden đang vận động đầu tư hạ tầng (Infrastructure Plan, 1200 tỷ USD) và an sinh xã hội (Build Back Better, 1750 tỷ USD);
  • NHTƯ tiếp tục bơm tiền và giữ lãi suất thấp (NHTƯ cho biết sẽ bớt bơm tiền vì lạm phát đang lên.)

Cho nên nợ công nước Mỹ tăng vọt. Năng suất không tăng mà GDP tăng (do nhà nước bơm tiền). Dân chúng không cần đi làm mà vẫn tiền dư rủng rỉnh.

Vai trò trên sân khấu của Milton Friedman không thay đổi (NHTƯ tiếp tục bơm tiền và hạ lãi suất) nhưng của John M. Keynes ngày càng lấn áp với bàn tay can thiệp của nhà nước không những để cứu vớt nền kinh tế mà còn lạm quyền dùng ngân sách và thuế khóa thò dọc cải tạo xã hội (bình đẳng màu da, giàu nghèo, đánh thuế nhà giàu…) theo kiểu xã hội chủ nghĩa. Chính ngay NHTƯ hiện giờ cũng bị áp lực chính trị để dùng biện pháp tiền tệ tạo công bằng xã hội và hổ trợ đầu tư công nghệ xanh, tức là tính độc lập của NHTƯ đang bị đe dọa.

Những kinh tế gia cánh tả như Paul Krugman thúc giục Biden đánh thuế cao và tiêu xài nhiều hơn nửa để bảo vệ môi trường và tạo bình đẳng giàu nghèo. Mỹ nợ ngập đầu nên đẻ ra một lý thuyết mới thịnh hành trong phe cấp tiến là Thuyết Tân Tiền Tệ (MMT, hay Modern Monetary Theory) lập luận nhà nước đừng lo nợ tăng, vì Mỹ mượn nợ bằng USD nên Mỹ in USD trả nợ.

Mỹ chê Tàu dởm. Tàu cười Mỹ khùng.

 



[1] Tên gọi Gilded Age khởi nguồn từ sách The Gilded Age: The Tale of Today năm 1873 của đại văn hào Mark Twain mô tả lòng tham và băng hoại trong nền chính trị Mỹ vào giai đoạn Tái Thiết (Reconstruction) sau cuộc Nội Chiến.

[2] Xem phim Reds (1981) của đạo diễn và tài tử Warren Beatty

[3] Thí dụ nhà nước đánh thuế quá cao tài sản cá nhân trên danh nghĩa công bằng xã hội, tức là nhà nước tước đoạt của cải và quyền tự do mưu cầu hạnh phúc của mỗi cá nhân.

[4] Nguyên tắc độc lập của NHTƯ (Independence of Central Bank) chỉ áp dụng ở Âu-Mỹ, còn tại Trung Quốc, Việt Nam, Thổ Nhĩ Kỳ v.v… thì NHTƯ dưới sự điều động của nhà nước. Ngay ở Mỹ NHTƯ cũng chịu nhiều áp lực chính trị hầu vi phạm tính độc lập của mình.

Monday, October 25, 2021

Kinh Tế Dễ Hiểu: Mô Hình Kinh Tế Trung Quốc dưới thời Tập Cận Bình (Chương 20)

Nhiều người Hoa cho biết trước năm 2008 một số đông cán bộ, đảng viên và dân chúng Trung Hoa có cùng chung nhận xét là tăng trưởng kinh tế sẽ dẫn đến dân chủ hóa – điểm khác biệt nơi người dân muốn thấy tiến trình này xảy đến nhanh còn đảng Cộng Sản cố tình trì hoãn. Cuộc Đại Khủng Hoảng Tài Chánh 2008 tại Hoa Kỳ khởi đầu cho bước chuyển biến tư duy lớn khi Bắc Kinh kết luận rằng đồng thuận Washington (Washington consensus) và trật tự thế giới tự do (liberal world order) do Mỹ lãnh đạo không hẳn là con đường duy nhất cho phát triển và ổn định, nhất là khi so sánh với mô hình xã hội chủ nghĩa mang màu sắc Trung Hoa vừa mang 300-500 triệu người từ nghèo đói lên sung túc lại đẩy nền kinh tế nhảy vọt lên hàng thứ nhì trên thế giới vỏn vẹn chỉ trong vòng 30 năm dưới sự lãnh đạo tài tình của đảng Cộng Sản.

Bước ngoặc tư tưởng kế tiếp là sự lung lay của nền dân chủ Mỹ trải qua hai kỳ bầu cử 2016 và 2020. Chuyển biến tư duy cuối cùng khi Bắc Kinh tự hào đối phó hữu hiệu với dịch cúm Tàu năm 2020 so với xã hội Tây Phương bất lực và hổn loạn. Ba sự kiện liên tục khiến Tập Cận Bình kết luận Hoa Lục không cần phải dân chủ hóa. Thay vào đó mô hình kinh tế chỉ đạo ở Trung Quốc đã được chứng minh cho thấy có đủ năng lực cạnh tranh với nền kinh tế thị trường của Mỹ. Bài này sẽ tìm hiểu chính sách của Tập Cận Bình thắt chặt sự kiểm soát của đảng lên nền kinh tế như thế nào bắt đầu từ ý thức hệ đó.

***

Mô hình xã hội chủ nghĩa với màu sắc Trung Hoa hiện đang đổi màu từ vàng (xanh nhiều hơn đỏ) thời Đặng sang hồng (đỏ nhiều hơn xanh) thời Tập. Tập Cận Bình đang đối diện với 3 thử thách mà cũng là cơ hội:

  1. GDP Trung Quốc có thể qua mặt Hoa Kỳ sớm là đầu thập niên 2030, trễ là 2040-50.
  1. Dù thành quả kinh tế rực rỡ nhưng khoảng cách giàu nghèo và bất mãn xã hội đe dọa ổn định xã hội và tính chính danh của đảng Cộng Sản Trung Quốc.
  2. Hoa Kỳ nay xem Trung Quốc là một đối thủ chiến lược và cố tình ngăn chận đà tiến của Hoa Lục.

Trước các thử thách đó, Tập kết luận Hoa Lục không cần phải dân chủ hóa mà cũng chẳng phải khép mình vào trật tự thế giới tự do theo Mỹ. Trái lại con đường đi tới là tái khẳng định vai trò lãnh đạo của đảng Cộng Sản nhằm mang lại bình đẳng xã hội và phục hồi Giấc Mộng Trung Hoa. Ba nét lớn trong chính sách kinh tế của Tập gồm:

  1. Khẩu hiệu “Thịnh Vượng Chung” (Common Prosperity) thời Tập đi ngược với lập trường “Không thể mọi người cùng giàu một lúc” (tức là chấp nhận giàu nghèo sai biệt) của Đặng, đồng thời đượm màu sắc xã hội chủ nghĩa thời Mao nhằm giải toả phần nào hố sâu giàu nghèo và mối bất bình trong quần chúng. 
  1. Trong kinh tế cổ điển có 4 phương tiện cấu thành sản xuất gồm Đất Đai, Lao Động, Vốn và Kinh Doanh (Land, Labor, Capital and Entrepreneur). Nay Bắc Kinh cọng thêm vào một yếu tố thứ 5 là Dữ Kiện (Data). 

Do nhà nước Cộng Sản phải làm chủ các phương tiện sản xuất cho nên nhà cầm quyền phải sở hữu mọi Dữ Kiện xã hội. Tập Cận Bình kềm chế hai tập đoàn mạng Alibaba và Tencent để thu thập những dữ kiện xã hội dưới tầm quản lý của đảng, đồng thời ngăn chận mầm móng công ty tư nhân trở thành một thế lực chính trị tác động lên quần chúng và nhà nước như trường hợp Facebook, YouTube và Twitter ở Mỹ.

Về kinh tế nhà nước thu thập các Dữ Kiện xã hội nhằm quản lý việc phân phối vốn và ngân sách, và để phát huy công nghệ chiến lược về trí tuệ nhân tạo.[1]

Về chính trị nhà nước theo dõi các Dữ Kiện xã hội nhằm kiểm soát thông tin và giám sát các mầm móng bất mãn trước khi bùn phát. 

  1. Truyền thống của nhà nưóc Cộng Sản chú trọng vào các ngành kỷ nghệ nặng như sản xuất động cơ, sắt thép, dầu hỏa, than đá v.v… Công nghiệp nặng (hay công nghiệp chiến lược) trong thế kỷ thứ 21 lại gồm Trí Tuệ Nhân Tạo, Chip Điện Tử, Năng Lượng Tái Tạo, Hàng Không và Không Gian, v.v… 

Bắc Kinh đề ra kế hoạch Made In China 2025 để Trung Quốc trước tự túc rồi sau đó dẫn đầu thế giới trong các ngành kỷ thuật chiến lược của thế kỷ thứ 21. Nhu cầu này càng trở nên cấp thiết trong hoàn cảnh tranh chấp Mỹ-Trung khi Hoa Kỳ có ý định phong tỏa Trung Quốc về công nghệ tiên tiến. 

Các mạng xã hội lại không thuộc diện “sản xuất”. Việc Bắc Kinh thất sủng hai đại tập đoàn Alibaba và Tencent là tín hiệu để khuyến khích các tài năng tinh hoa trẻ ưu tiên chọn công ăn việc làm trong những ngành công nghệ chiến lược thay vì mạng xã hội (khác với giới trẻ ở Mỹ ưa chuộng làm việc cho Google, Facebook hay liên quan đến BitCoin v.v…với mức lương và bổng lộc cao.) 

  1. Giống như Amazon ở Mỹ, hai công ty Alibaba và Tencent nắm vai trò huyết mạch trong kinh tế Trung Quốc vào thời gian phong tỏa dịch bệnh Vũ Hán do mọi mua bán đều xảy ra trên mạng. Cho nên không lấy làm lạ khi Bắc Kinh siết chặc quản lý hai công ty này vì không thể để một quyền lực rộng lớn như vậy nằm trong tay tư nhân. 
  1. Ant Financial (Alibaba) và WeChat (Tencent) là công ty và ứng dụng tài chánh mạng thành công nhất thế giới, bỏ xa Apple Pay hay Google Pay. Dân Tàu ngày nay không xài tiền mặt, thay vào đó mua bán qua điện thoại cầm tay. Dựa vào thế mạnh này nên Ant Financial và WeChat thu thập các dữ kiện mạng chuẩn bị cho doanh nghiệp vừa và nhỏ vay vốn thay vì mượn tiền ngân hàng. Ant Financial còn có thêm chương trình cộng tác với đại công ty tài chánh Vanguard ở Mỹ nhằm cung cấp các dịch vụ đầu tư cá nhân cho dân chúng (thay vì dân Tàu chỉ gởi tiết kiệm vào ngân hàng với lãi xuất thấp.) 

Qua hai dịch vụ nói trên nhằm (1) thu hút nguồn vốn từ dân chúng, rồi (2) phân bổ nguồn vốn cho doanh nghiệp nên Ant Financial và TenCent trở thành đối thủ cạnh tranh với ngân hàng nhà nước, ngân hàng địa phương và các lãnh chúa địa phương trước nay độc quyền thu góp tiết kiệm giá rẻ từ quần chúng để cho các công ty quốc doanh và tập đoàn lợi ích vay mượn với phân lời thấp. Do vốn là một trong 5 yếu tố cấu thành sản xuất (xem phần trên) nên đảng Cộng Sản phải kiểm soát dòng vốn. Bắc Kinh siết chặc Ant Financial và Tencent chính là để nhà nước – thay vì thị trường - độc quyền quản lý vốn. 

  1. Cũng liên quan đến tài chánh Bắc Kinh cấm đoán mọi dịch vụ liên quan đến Bitcoin, một phần nhằm ngăn chận chảy máu ngoại tệ nhưng chính yếu vì Bitcoin không nằm dưới sự quản lý của nhà nước. Trái lại Bắc Kinh muốn đẩy mạnh loại Tiền Điện Toán do Ngân Hàng Nhà Nước (CBDC hay Central Bank Digital Currency) nên loại bỏ Bitcoin để triệt hạ một đối thủ cạnh tranh. 
  1. CBDC-TQ sẽ giúp Bắc Kinh kiểm soát dòng vốn, giảm thiểu nạn tham nhũng[2] và không bị che mắt bởi các đầu tư kém hiệu quả. CBDC-TQ có mục tiêu dài hạn là phá vỡ vòng phong tỏa của USD Hoa Kỳ một khi các đối tác thương mại nước ngoài dùng CBDC nên không phải thanh toán mua bán qua hệ thống SWIFT chuyển tiền liên quốc gia bị Mỹ chi phối. 
  1. Một lý do khiến Bắc Kinh chận đứng việc niêm yết ra nước ngoài của Ant Financial và Didi nhằm tránh việc công ty Trung Quốc phải minh bạch hoá trên sàn chứng khoán Mỹ các con số về doanh thu và dịch vụ trong nước, tức là những tin tức mà Bắc Kinh xem như thuộc lãnh vự an ninh quốc gia. 
  1. Giáo dục con cái hiện là một gánh nặng tài chánh cho các gia đình Trung Quốc. Bắc Kinh tăng cường kiểm soát ngành giáo dục mạng và giới hạn giáo viên kềm trẻ em tại tư gia nhằm xoa dịu nổi bất bình trong quần chúng. 
  1.  Bắc Kinh kiểm soát thanh thiếu niên chơi các trò chơi trên mạng không quá 3 giờ đồng hồ mỗi tuần. Cho dù quyền hạn của nhà nước lấn lướt vào gia đình nhưng nhiều cha mẹ Trung Quốc đồng ý với chính sách này do con trẻ ngày nay quá khó dạy dỗ. 
  1. Ở Tây Phương khoảng cách giàu nghèo được giảm bớt bằng cách tăng thuế nhà giàu. Trung Quốc không tăng thuế, trái lại chỉ “khuyến khích” các đại gia “đóng góp” vào các quỹ xã hội.

Ở Mỹ có Kỷ Nguyên Vàng Mạ (Gilded Age) vào cuối thế kỷ thứ 19 khi nền kinh tế được đánh bóng bởi tăng trưởng hào nhoáng bề ngoài, nhưng bên trong là hố sâu giàu nghèo và bất công xã hội. Tiếp theo là Thời Đại Cấp Tiến (Progressive Era) khi báo chí phanh phui các tệ đoan xã hội dẫn đến những cải cách về kinh tế, chính trị và luật lao động.

Nhiều tác giả nhận xét rằng Trung Quốc đang trải qua Kỷ Nguyên Vàng Mạ của chính họ. Nhưng thay vì tự do báo chí và dân chủ hóa để giải trừ các bất cập xã hội thì Bắc Kinh chọn siết chặt sự lãnh đạo của đảng Cộng Sản với mục tiêu mang lại tiến bộ, thịnh vượng và công bình xã hội. Liệu sự kiểm soát của nhà nước có sẽ bóp nghẹt sức sáng tạo của thị trường, hay Bắc Kinh có thể huy động hữu hiệu nhân vật lực nhằm qua mặt Mỹ trong chặng cuối của cuộc đua? Kết quả không quá 10 năm nửa sẽ biết.


[1] Các dữ kiện trên mạng xã hội không những được dùng để theo dõi thị hiếu quần chúng, kiểm soát và lèo lái dư luận mà còn ứng dụng vào trí tuệ nhân tạo. Đảng Cộng Sản Trung Quốc xem trí tuệ nhân tạo như công nghệ chiến lược chủ lực mà Trung Hoa phải dẫn đầu trong thế kỷ 21.

[2] Thống kê cho thấy nơi nào xử dụng tiền điện toán sẽ giảm bớt tham nhũng vì sợ quả tang, nhưng còn những lối tham nhũng khác thì…chưa biết.

Saturday, October 16, 2021

Kinh Tế Dễ Hiểu: Mô Hình Kinh Tế Trung Quốc (Nợ - Chương 19)

Việc công ty địa ốc Evergrande lớn nhất ở Trung Quốc – và cũng là công ty với con số nợ khổng lồ lên đến 350 tỷ USD – có cơ nguy vỡ nợ khiến nhiều người đặt câu hỏi liệu đây có sẽ là bước ngoặc báo nguy giống như khi đại ngân hàng Lehman Brothers phá sản khởi đầu cho cuộc Đại Khủng Hoảng Tài Chánh 2008 ở Mỹ? Kinh Tế Dễ Hiểu cho là chưa phải lúc, và bài này sẽ phân tích bằng cách nào Bắc Kinh trong suốt 40 năm nay đã lèo lái nhiều thách thức gay go không để lan tràn làm suy sụp nền kinh tế.

Trước hết nói về thị trường địa ốc ở Trung Quốc hiện chiến 25-30% GDP – so với 9% GDP ở Mỹ năm 2006 tức là vào lúc cao điểm trước cuộc khủng hoảng địa ốc 2007-08. Nhà đất chiếm 80% tài sản của dân Tàu (so với 40% ở Mỹ). Người Hoa không có nhiều cơ hội đầu tư vào cổ phiếu hay trái phiếu như ở Hoa Kỳ nên để dành tiền mua nhà nhất là khi giá nhà tăng liên tục từ 30 năm nay (trừ những lúc giá cả khựng lại trong ngắn hạn như vào năm 2014.)

Ngành địa ốc ở Trung Quốc nếu suy sụp trong một khoảng thời gian dài sẽ ãnh hưởng đến GDP, và trực tiếp tác động lên dân chúng vốn dựa vào giá nhà như khoảng đầu tư lớn nhất trong đời chuẩn bị cho cưới hỏi, hưu trí hay gia tài để lại con cháu[1]. Cho nên Bắc Kinh vô cùng thận trọng quản lý khủng hoảng địa ốc để không nổ bùng trở thành bất mãn xã hội như trường ở Mỹ năm 2007 vốn dẫn đến Donald Trump và Bernie Sander năm 2016 và 2020.

Khủng hoảng kinh tế nguy hiểm ở chổ từ một đốm lửa nhỏ trong chớp mắt lây lan thành trận cháy rừng, lý do nơi tâm lý hốt hoảng của quần chúng và giới đầu tư mạnh ai nấy ôm đầu máu tháo chạy! Kinh nghiệm Bắc Kinh chận đứng dịch bệnh từ thành phố Vũ-Hán năm 2020, cùng với bài học ngăn chận khủng hoảng tài chánh ở Trung Quốc năm 2016, cho thấy không một nhà cầm quyền nào trên thế giới có đủ uy quyền, hà khắc nhưng hữu hiệu tột cùng như đảng Cộng Sản Trung Hoa nhằm giết chết từ trong trứng nước một cuộc khủng hoảng trước khi lây lan – cho dù là khủng hoảng y tế, kinh tế hay là chính trị[2].

Năm 2016 Bắc Kinh chận đứng thất thoát ngoại tệ bằng cách giới hạn con số USD mang ra nước ngoài. Trung Quốc áp dụng những biện pháp chưa từng thấy như đóng cửa sàn chứng khoáng trong 3 ngày (thay vì vài giờ như ở Mỹ) để ngăn chận giá cả không sụp đổ. Tất cả mọi thông tin xấu đều bị kiểm duyệt, bưng bít và nghiêm trị. Tin dữ không thể lan tràn, tâm lý quần chúng tuy hoang mang đồn đoán xôn xao nhưng không hổn loạn. Bắc Kinh nhờ vậy có thêm vài ngày để chuyển nợ xấu về Trung Ương (dưới dạng các công ty xử lý nợ xấu) nhằm trấn an dân chúng không sợ bị mất tiền và ổn địn thị trường.

Tất nhiên nợ xấu không biến mất, nhưng khi chuyển về Trung Ương thì nhà nước có thể in tiền để trả nợ trong nước (bằng NDT hay Nhân Dân Tệ), hay dùng quỹ dự trử ngoại tệ để trả nợ nước ngoài (bằng USD). Đa số nợ trong nước tập trung vào các tập đoàn địa ốc và công ty quốc doanh ở địa phương (so với khủng hoảng ở Mỹ từ nợ tư nhân) nên việc chuyển nợ xấu tương đối nhanh chóng và dễ dàng. Nợ xấu nhờ đó bị cô lập mà không lây lan.

Bắc Kinh dùng nhiều biện pháp để thanh toán nợ xấu trong nước nhưng đơn giản nhất vẫn là in thêm một ít NDT để trả tiền lời (interest) hàng năm, còn nợ gốc (principal) tự nhiên thu nhỏ dần khi GDP tăng trưởng. In tiền tức lạm phát khiến người dân mất sức mua, nhưng khoảng tiền lời trả hàng năm trả cho nợ xấu được chia ra đồng đều theo đầu người nên không còn là gánh nặng. Riêng nhà cầm quyền và các tập đoàn lợi ích gây ra nợ xấu chỉ bị khiển trách nội bộ.

Bắc Kinh lợi dụng vụ Evergrande đang nổ bùng để làm lộ rõ nhiều manh mối tiền bạc và thế lực ở các địa phương mà chính Trung Ương cũng không biết. Nhưng nếu khủng hoảng trở thành nghiêm trọng và lây lan thì Bắc Kinh sẽ mạnh tay cô lập như vào dịp khủng hoảng tài chánh 2016 hay khủng hoảng dịch bệnh Vũ Hán 2020.

***

Tóm lại Bắc Kinh ngăn chận khủng hoảng bằng các biện pháp sau đây:

  1. Cấp Thời:

-          ngăn chận chuyển tiền ra nước ngoài

-          đóng cửa sàn giao dịch (nếu cần Bắc Kinh có thể cấm mua bán nhà trong 3 tháng để ổn định thị trường!)

-          bưng bít thông tin  

  1. Trung Hạn:

-          chuyển nợ xấu về Trung Ương[3]

-          trừng phạt riêng lẻ từng ngân hàng địa phương. Thí dụ trên sổ sách của một ngân hàng địa phương có nhiều nợ xấu thì riêng ngân hàng này phải chịu phân lời cao khi mượn tiền ngân hàng trung ương.

Bản hàng năm đánh giá thành tích cán bộ giờ đây có thêm hạng mục nợ xấu nhiều hay ít trong địa phương, cho dù là nợ từ các ngân hàng địa phương hay nợ không qua hệ thống ngân hàng (shadow banking[4].)

***

Câu hỏi đặt ra là tại sao Trung Quốc chỉ thanh toán nợ xấu trong Cấp Thời và Trung Hạn mà không thể giải quyết tận gốc ở Dài Hạn?

Cách nhìn dễ hiểu nhất là dùng thí dụ Trung Quốc đặt ra chi tiêu tăng trưởng 7% GDP[5]. Giả sử tăng trưởng thật (năng suất và tiêu dùng của quần chúng) chỉ 4% thì 3% GDP còn lại lấy đâu ra?

1.      Thứ nhất là báo cáo láo 1.5% GDP.

2.      Thứ hai là địa phương dùng hệ thống ngân hàng địa phương bơm tín dụng cho tăng trưởng giả 1.5% GDP (tức là đầu tư không sinh lời hay nợ xấu.) Bơm tiền vào địa ốc ăn vừa nhanh lại ngon nhất là khi các địa phương có quyền xử dụng đất đai “của toàn dân” cung cấp cho những công ty quốc doanh và tập đoàn thế lực cầm cố cho ngân hàng đẻ thành tín dụng.

3.      Nhưng câu chuyện chưa kết thúc vì phải trừ thêm vào đó 1.5% GDP tín dụng đầu tư cho các công ty quốc doanh vay mượn không sinh lời như than đá, thép và xi măng.

4.      Như vậy tổng số tín dụng (từ bong bóng địa ốc và các công ty quốc doanh không sinh lời) tăng lên 3% tức là gần bằng với tăng trưởng thật 4%!

Trong khoảng 1980-2000 khi Trung Quốc còn lạc hậu nên cần sắt thép, xi măng, than điện để xây cất nhà đất, hạ tầng và xí nghiệp nên khoảng đầu tư không sinh lời rất ít và bị che khuất bởi tăng trưởng thật 7-10% GDP mỗi năm. Nhưng đến nay khi GDP tăng trưởng chậm lại, nhu cầu hạ tầng và xây cất nhà đất giảm bớt thì nợ xấu mới lòi ra!

Như vậy tại sao Bắc Kinh không thúc đẩy tiêu thụ nội địa trong dân chúng tăng 3% thay vì nợ xấu đầu tư vào bong bóng đất đai và các công ty quốc doanh không sinh lời?

Thứ nhất, giá nhà tăng liên tục trong 30 năm đến nay chiếm 25-30% GDP và 80% tài sản các hộ gia đình Trung Quốc. Địa ốc tăng nhờ đầu tư tăng, nay cắt nguồn vốn khiến giá nhà sụp đổ tức là dân chúng nghèo đi và bất mãn. Bắc Kinh trong thế cỡi cọp không dám xuống.

Thứ nhì, cắt nguồn vốn từ đất đai tức là siết mạch máu các địa phương trước nay biến đất đai thành nguồn thu nhập để tăng trưởng.

Thứ ba, muốn tư nhân tăng tiêu thụ thì phải lên lương và nâng cao chi phí an sinh xã hội (để dân bớt để dành tiền lo bệnh hoạn, nuôi con và lúc về già) bằng cách bớt tín dụng và đánh thuế vào doanh nghiệp và các tập đoàn thế lực – chính sách lấy của nhà giàu phân phát cho nhà nghèo này đi ngược với mô hình tăng trưởng theo xã hội chủ nghĩa với màu sắc Trung Hoa từ thời Đặng Tiểu Bình.

***

Bắc Kinh có đủ uy lực, sắt thép và hữu hiệu để ngăn chận các khủng hoảng nhưng chỉ là các biện pháp vá víu ngắn và trung hạn. Nếu nợ xấu còn tăng dài hạn sẽ ra sao?

Tiếp tục đầu tư thì giá nhà còn tăng cho đến lúc bớt người mua, tập đoàn đầu tư thu vào không đủ để trả nợ thì sẽ vỡ nợ. Tâm lý thị trường ở Trung Quốc là ỷ lại (moral hazard) nhiều lần được nhà nước nhảy vào can thiệp không cho vỡ nợ nên sau đó giá nhà lại tăng. Nhiều người chờ giá nhà xuống để mua (good time to buy) nên giá nhà không thể tụt hạ.

Nhưng sẽ bớt người mua vì: (1) Trung Quốc đang tiến vào giai đoạn lão hóa (2) GDP Trung Quốc tăng trưởng chậm lại cho nên lương và tiết kiệm tăng chậm so với giá nhà tăng nhanh và quá cao 

Nợ xấu tăng mải thì đến một lúc nào đó nhà nước sẽ gãy xương sống không gánh vác nổi. Liệu nhà cầm quyền có đủ uy lực và hà khắc để tiếp tục đè nén không cho khủng hoảng bùng nổ lây lan hay không chẳng ai biết. Ở Mỹ kinh tế trì trệ sau khủng hoảng; bên Nhật tuy không khủng hoảng nhưng kinh tế vẫn trì trệ; ở Liên Xô trước đây chưa bao giờ có khủng hoảng nhưng kinh tế cứ lụn bại. Cho nên ai cũng muốn thấy khủng hoảng bùng nổ như đi coi pháo bông nhưng đây không phải là dấu hiệu duy nhất cho kinh tế suy thoái.

Liệu suy thoái sẽ xảy đến nhanh hay chậm trong vòng 5 hay 10 năm nửa chẳng ai biết. Mỹ hiện cũng đang mang một núi nợ khổng lồ. Giữa Mỹ và Tàu hai gánh nợ gánh nào gảy trước nước kia sẽ là cường quốc số một vào thế kỷ 2021. Tàu có ưu thế sản xuất hàng hóa, Mỹ có ưu thế in tiền đô-la. Kinh Tế Dễ Hiểu tiên liệu trong khoảng 5-10 năm nửa sẽ có câu trả lời (nếu không sớm hơn trước cuối nhiệm kỳ Biden.)

 

 

 

 

 

 

 

 



[1] Dùng thí dụ Việt Nam: một gia đình ở Saigon thu nhập 30 ngàn USD nhưng căn nhà 500 ngàn USD so với một gia đình ở Mỹ thu nhập 100 ngàn USD nhưng căn nhà 300 ngàn USD, tức là dân Saigon tuy lương thấp nhưng giàu tài sản hơn dân Mỹ! Bù lại gặp khủng hoảng địa ốc thì thiệt hại nặng hơn ở Mỹ. Câu chuyện này đi sâu hơn nửa không còn dễ hiểu vì ở Mỹ mượn tiền mua nhà nên lúc khủng hoảng nhiều người bỏ nhà trong khi ở Việt Nam và Trung Quốc ít có chuyện bỏ nhà, cho nên thị trường địa ốc không thể sụp nhanh như ở Mỹ - Kinh Tế Dễ Hiểu xin dừng nơi đây.

[2] Với mức độ kiểm soát hiện thời Bắc Kinh có thể chận đứng một phong trào quần chúng trong nước không cho lây lan thành cách mạng chính trị như trường hợp Liên Xô và Đông Âu thập niên 1990 hay Cách Mạng Hoa Hồng và Hoa Nhài thập niên 2000.

[3] Nói cho cùng ở Mỹ cũng dùng các biện pháp tương tự nhưng màu mè hơn như vào năm 2007 Bộ Tài Chánh Hoa Kỳ “bảo trợ” cho ngân hàng mạnh J.P. Morgan mua Bear Stearns; hay công hữu hóa hai đại tập đoàn địa ốc Fannie Mae và Freddie Mac năm 2008.

[4] Shadow banking tức là nợ không qua hệ thống ngân hàng nên không báo cáo về Ngân Hàng Trung Ương, gồm nợ tư nhân (A cho B mượn tiền), nợ từ các tập đoàn đầu tư (trust), v.v…

[5] Việt Nam cũng đặt ra chỉ tiêu tăng trưởng GDP giống như Trung Quốc nên cùng chia sẻ vấn nạn này. Trái lại Âu-Mỹ-Nhật không có chỉ tiêu tăng trưởng nên công nhân viên nhà nước không cần đạt hay vượt chỉ tiêu, còn GDP chỉ là kết quả của đầu tư và tiêu thụ tư hay công.

Friday, October 8, 2021

Kinh Tế Dễ Hiểu: Mô Hình Kinh Tế Trung Quốc (Phần 2 - Chương 18)

Sự nghiệp chính trị của đại đế Nã-Phá-Luân chẳng liên hệ gì nhiều đến Trung Quốc nên không biết tại sao ông nổi hứng tuyên bố một câu bất hủ mà giờ này có giá trị của một lời tiên tri “Hãy để Trung Hoa ngủ yên bởi vì khi tỉnh giấc nó sẽ làm rung chuyển thế giới.”

Vào tháng 03/1978 có một sự kiện ít được biết đến nhưng bắt đầu lay thức gã khổng lồ Trung Quốc khi một hợp tác xã nông nghiệp ở Phúc Kiến xin phép được giữ lại phần sản xuất vượt chỉ tiêu để khuyến khích nông dân hăng hái làm việc. Đây là giai đoạn trước Đổi Mới nên viên thư ký đảng bộ của hợp tác xã bị phê bình kiểm điểm. Chỉ 8 tháng sau đó vào cuối năm 1978 Đặng Tiểu Bình tuyên bố cải tổ và mở cửa nền kinh tế. Đề nghị nói trên của hợp tác xã được mang ra thử nghiệm với kết quả sáng chói nên viên thư ký đảng được ban khen.

Tuyên bố của Đặng Tiểu Bình “Giàu sang là vinh quang” trở thành kim chỉ nam cho mô hình phát triển của Trung Quốc kể từ lúc đó. Nền kinh tế Hoa Lục từ lạc hậu nhảy vọt lên đứng hàng thứ nhì trên thế giới chỉ trong vòng 40 năm. Nếu so sánh với Ấn Độ (dân chủ) hay Indonesia (độc tài trước năm 2000) cũng vừa chậm tiến lại đông dân thì Trung Quốc đã bỏ xa hai nước này. Đáng kinh ngạc hơn nửa là Hoa Lục trong bước ban đầu vừa không có các định chế, luật lệ và tập quán của thị trường mà cả đến thị trường cũng không có! Trong suốt chuỗi dài phát triễn chứa đầy những mâu thuẩn giữa một nhà nước tập trung quyền lực và nền kinh tế thị trường, giữa hố sâu giàu nghèo tăng vọt, tình trạng phá hủy môi trường, tham nhũng và hối mại quyền thế…nhưng không bóp chết được tính năng động cạnh tranh mà cứ mỗi vài năm xã hội lại lung lay khi những làn rạn nứt hiển hiện trong nền móng kinh tế[1]. Nhiều nhà quan sát từng cho rằng đây là những thời điểm bắt đầu cho sụp đổ hay suy thoái để rồi lại sai[2]! Tất nhiên nếu tiếp tục bói mò kiểu “Anh sẽ chết” tất nhiên có ngày đúng vì nền kinh tế nào rồi cũng sẽ sụp đổ, nhưng một trong những vấn đề quan trọng nhất của thế kỷ 21 rằng liệu GDP của Trung Quốc có sẽ qua mặt Hoa Kỳ trong thập niên 2030 để trở thành nền kinh tế lớn nhất hoàn cầu hay không thì câu trả lời giờ này vẫn còn mù mờ 50/50.

Một trong những lý do khiến tăng trưởng ở Trung Quốc nhảy vọt vì GDP là mục tiêu tập trung mà Bắc Kinh theo đuổi[3] – so với Hoa Kỳ bị chi phối đa đoan trong vai trò siêu cường toàn cầu còn Âu Châu tìm cách cân bằng giữa phát triển và lối sống hạnh phúc (savoir-vivre). Ở Hoa Lục mỗi địa phương, đảng viên hay cán bộ nhà nước vừa bị đánh giá dựa trên thành tích tăng trưởng lại được khuyến khích bằng cách cho giữ lại phần trăm lợi nhuận. Cho nên nhà nước Trung Quốc tuy mang tiếng xã hội chủ nghĩa nhưng tổ chức gần giống như tập đoàn Mc Donald’s của Mỹ: Ban Quản Lý Công Ty (hay là Trung Ương Đảng) đề ra chỉ tiêu và công thức tăng trưởng chung; mỗi Franchise hay Cơ Sở Nhượng Quyền Thương Mại (hay từng Địa Phương) được nhiều quyền hạn rộng rãi phát huy sáng kiến quảng cáo thương vụ trong địa phận của mình miễn là không được vi phạm mẫu mực của thương hiệu (xã hội chủ nghỉa theo màu sắc Trung Quốc). Mỗi Franchise sẽ nộp X% doanh thu cho Trung Ương và giữ phần lợi nhuận còn lại, lời nhiều hưởng nhiều lời ít hưởng ít.

Tuy nhiên chính vì tập trung vào tăng trưởng GDP nên nhiều vấn đề tồn đọng trong kinh tế và xã hội không được quan tâm đúng mức sinh ra phát triễn không bền vững, khoảng cách giàu nghèo tăng vọt, môi trường bị hủy hoại và sự bùn phát của nạn tham nhũng hối lộ tràn lan trong xã hội.

Khi họ Đặng tuyên bố “Không thể nào mọi người cùng giàu một lúc” sau đó cho thành hình những đặc khu kinh tế vùng ven biển tức mặc tình chấp nhận giàu nghèo sai biệt giữa miền duyên hải (400 triệu người Hoa sinh sống) và đất đai nằm sâu trong nội địa (800 triệu còn lại.) Chính sách của Đặng Tiểu Bình đi ngược 100% với Mao Trạch Đông vì họ Mao bần cùng hóa đô thị bằng cách đưa dân chúng thành phố vào các hợp tác xã nông thôn để bình đẳng nghèo khổ như nhau (họ Mao đồng thời chuẩn bị kế hoạch phòng thủ chiều sâu lấy nội địa làm hậu cần trong trường hợp Trung Quốc bị tấn công.)

Tiếp theo cuộc thí nghiệm thành công của hợp tác xã nông nghiệp Phúc Kiến nói trên Bắc Kinh thúc đẩy phát triễn bằng cách cho phép những địa phương tăng trưởng vượt chỉ tiêu được giữ lại nhiều lợi ích kinh tế trong khu vực, còn giới lãnh đạo sẽ thăng quan tiến chức. Trong khoảng thời gian 1978-2004 Hoa Lục còn là một nước đang phát triển nên Bắc Kinh không có ngân sách trung ương dồi dào để phân phối cho các địa phương thực hiện kế hoạch tăng trưởng. Bù lại mỗi địa phương được rộng quyền phát huy sáng kiến (trong khuông khổ chính trị mà Bắc Kinh cho phép) và nhiều quyền hạn to lớn như trưng thu đất đai “của toàn dân” rồi bán lại quyền xử dụng đất. Các địa phương được phép ban hành tín dụng qua hệ thống ngân hàng địa phương để thúc đẩy đầu tư. Cho nên đất đai trở thành nguồn lợi chính còn tín dụng tức là đầu cầu tăng trưởng của từng khu vực, cả hai lại là chìa khóa mỏ vàng mà các lãnh chúa địa phương và những tập đoàn thế lực sau này năng nổ tìm đủ mọi sáng kiến khai thác.

Trong những năm đầu sau khi mở cửa kinh tế nông thôn phát triển nhanh hơn thành phố. Lý do các hợp tác xã nông nghiệp có thể nhanh chóng tăng gia sản xuất lúa gạo trong khi thành phố thiếu người có vốn và kiến thức đầu tư sau hơn 30 năm sống dưới chế độ cộng sản. Dân chúng và cán bộ đều hoang mang chưa biết khuông khổ Đổi Mới rộng hẹp thế nào để tránh vi phạm, thí dụ giá cả do nhà nước hay thị trường quyết định, sở hữu tư nhân nhiều ít đến mức nào…

Bù lại dân cư Thượng Hải và những vùng ven biển vừa mang dòng máu làm ăn lại được thêm một lợi thế mà nông thôn không thể có tức các quan hệ bà con họ hàng với Hồng Kông – Đài Loan – Mã Lai – Singapore [4]. Những vùng duyên hải tranh nhau mời mọc Hoa Kiều về nước đầu tư qua các đường dây quen biết chằng chịt thay vì tổ chức hệ thống trong khuông khổ của những Văn Phòng Phát Triễn và Đầu Tư theo kiểu Nam Hàn và Đài Loan - bởi vì lúc đó ở Trung Quốc không có tầng lớp cán bộ hay kế hoạch đầu tư nào hữu hiệu bằng kiểu “giật dây” những mối liên hệ tư nhân nói trên[5]. Nhờ vậy nảy sinh truyền thống cạnh tranh mà sau này giúp cho cán bộ và tư nhân năng động đầy sáng kiến cho dù phải sống trong mô hình chuyên chế độc đảng. Bù lại nạn tham nhũng, hối lộ, bè phái, bôi trơn bùn phát bởi vì đầu tư ngay từ lúc ban đầu đã không được quy hoạch bởi một tầng lớp chuyên viên kinh tế độc lập và khách quan.

Khoảng năm 1993 có 3 thay đổi quan trọng nhưng dính chặt với nhau: (1) quyền sở hữu tư nhân, (2) tư hữu hóa một số doanh nghiệp nhà nước và (2) thu hút đầu tư Tây Phương:

Công ty Âu-Mỹ-Nhật chỉ bỏ vốn khi quyền tư hữu được bảo đảm;

Doanh nghiệp nhà nước được tư hữu hóa bán cho các nhóm thế lực gồm cựu viên chức nhà nước “nhảy rào” làm ăn;

Những đặc khu kinh tế vùng ven biển được tư bản Âu-Mỹ-Nhật đào tạo để cho ra đời luật thương mại, quyền sở hữu tư nhân cùng các định chế đầu tư.

Dân cư vùng duyên hải trở nên giàu có, làm ăn với nước ngoài, xuất ngoại thường xuyên nên am hiểu quyền lợi và luật pháp nên không còn dễ bị bắt nạt như người sống dưới quê. Kết quả là cho đến ngày hôm nay Trung Quốc chia ra thành 2 khu vực cả về kinh tế lẫn luật pháp:

- giàu (ven biển) và nghèo (nội địa)

- luật pháp tương đối được tôn trọng (ven biển) hay luật rừng (nội địa)[6]

Khoảng cách giữa 2 vùng được ước đoán cách biệt 20-30 năm[7].

Một trường hợp điển hình là nạn quấy nhiễu (harassment) và tham nhũng vặt (petty corruption) giảm dần ở ven biển trong khi tiếp tục thịnh hành trong đất liền. Bắc Kinh quy định mức lương thấp tương đối đồng đều cho công nhân viên quan chức trên toàn quốc để tránh bị xem phân biệt đối xử. Lương ít không đủ sống ở Thẩm Quyến, Thượng Hải nên trước đây cán bộ nhà nước bắt buộc phải tham nhũng hối lộ rồi ăn chia. Đến khi kinh tế tăng trưởng, viên chức cấp nhỏ không còn dám đụng chạm đến các tập đoàn thế lực và doanh nghiệp cỡ lớn trong khi dân chúng cũng hiểu biết luật lệ để sừng sỏ gây lại. Vùng duyên hải được giữ lại phần tăng trưởng vượt chỉ tiêu nên cấp phát bổng lộc hay phần thưởng giá trị gia tăng (bonus) chia ra cho cán bộ nhân viên trong địa phương. Tăng trưởng càng cao thì phần thưởng càng nhiều khiến cán bộ nhà nước bỏ thói tham nhũng vặt và quấy nhiễu doanh nghiệp, thay vào đó hợp tác tạo cơ hội cho doanh nghiệp càng nhiều lợi nhuận thì bổng lộc càng lớn. Cho nên cán bộ địa phương thay vì “điều hướng doanh nghiệp” (theo mô hình xã hội chủ nghĩa) nay trở thành “phục vụ doanh nghiệp” (sau này sinh “cấu kết với doanh nghiệp” bằng cách cấp phát đất đai với giá rẻ, đàn áp công nhân đòi tăng quyền lợi và che dấu các vi phạm môi trường.) Bù lại ở các vùng nội địa vì tăng trưởng chậm, doanh thu thấp còn chưa thoát khỏi các tệ trạng quấy nhiễu và tham nhũng con.

Bốn vấn đề mới lại nảy sinh ra ở vùng duyên hải. Thứ nhất, tăng trưởng càng nhanh thì địa phương càng nhiều lợi tức để tưởng thưởng những cơ quan và cán bộ đạt thành tích cao. Loại cán bộ thư viện chẳng thể nào thu hoạch vẻ vang bằng cán bộ thuế vụ hay phát triễn đô thị, cho nên cùng trong cùng một ngạn ngạch mà công nhân viên chức giàu nghèo khác nhau một trời một vực!

Thứ hai là thành tích dựa trên kết quả tức thời thấy được như con số tăng trưởng. Bù lại những vấn đề về an sinh xã hội hay môi trường chỉ chi mà không thu nên bị bỏ quên cho đến khi tình trạng trở nên tệ hại đến mức trung ương phải can thiệp do dân chúng biểu tình phản đối. Trong những năm gần đây cán bộ nhà nước than phiền bị đánh giá theo quá nhiều hạn mục bao gồm tăng trưởng, môi trường, an sinh xã hội, không có tụ tập biểu tình trong khu vực v.v…cho dù những món nay bị xem là “hình thức” nhưng các phe cánh dựa vào những phụ mục nói trên để “quật” lẩn nhau khi cần thiết.

Thứ ba là trong khi đầu tư nước ngoài vào thập niên 1980 dựa vào quan hệ thân hữu nhưng đến năm 2000 thì các vùng duyên hải trở nên giàu đâm ra chọn lọc đầu tư cỡ lớn. Các tập đoàn chiến lược, nhiều doanh thu hay nhiều thế lực được ưu đãi nhằm loại bỏ các công ty con để chiếm đoạt thị trường và đất đai.  Nhưng cũng chính từ quá trình gạn lọc này giúp ra đời một đội ngũ chuyên viên kinh tế chuyên nghiệp được tổ chức theo mô hình của các Văn Phòng Phát Triển và Đầu Tư theo kiểu Nam Hàn và Đài Loan quản lý đầu tư trở thành hệ thống và lâu dài.

Thứ tư là trong khi nạn tham nhũng vặt (petty theft) và bôi trơn (grease money) giảm ở vùng duyên hải thì ngược lại tham nhũng gộc (grand corruption) và cấu kết bè phái (access money) trở nên thịnh hành nhằm tranh đoạt các thị trường địa ốc hay những khoảng thầu trị giá hàng chục hay trăm tỷ đô-la. Từ năm 2000 chính là lúc mà các thái tử đỏ và những ông hoàng đỏ (red barons) như Bạc Hy Lai (Ủy Viên Trung Ương Đảng), Chu Vĩnh Khang (Bộ Trưởng Bộ Công An) Lưu Chí Quân (Bộ Trưởng Bộ Đường Sắt) trở nên nổi tiếng như cồn mà sau này bị Tập Cận Bình triệt hạ.

Tác giả Yuen Yuen Ang so sánh tình trạng tham nhũng cấu kết (access money) hiện thời tại Trung Quốc với Thời Đại Vàng Mã (Gilded Age) ở Mỹ vào cuối thế kỷ thứ 19. Đây là giai đoạn nền kinh tế mà Hoa Kỳ tăng trưởng vượt bực song song với hố sâu giàu nghèo và bất công xã hội, lại cũng là lúc nổi lên các ông Vua Dầu Hỏa (Rockfeller), Vua Ngân Hàng (J.P. Morgan), Vua Đường Sắt (Stanford) nhiều tiền bạc cấu kết với các thế lực chính trị để tranh đoạt đất đai và các khoảng thầu đầu tư cực kỳ lớn…Thời Đại Vàng Mã ở Mỹ được tiếp nối bởi Giai Đoạn Cấp Tiến (Progressive Era) nhờ vào tự do báo chí vạch trần các tệ nạn xã hội để thúc đẩy cải tổ về luật lao động và thương mại chống độc quyền. Ngược lại Thời Đại Vàng Mã hiện thời ở Trung Quốc đi vào con đường ngược lại là kiểm duyệt ngôn luận nhằm tập trung quyền hạn để Đảng Cộng Sản (tức là Tập Cận Bình) chỉ đạo giải quyết hố sâu giàu nghèo, triệt hạ những siêu đại công ty nhiều thế lực (như Alibaba và TenCent) và lành mạnh hóa thị trường đầu tư (Evergrande) – nhưng đây là đề tài của chương kế tiếp.

Trở lại với khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng duyên hải và trong đất liền, năm 2004 là lúc mà Bắc Kinh có một ngân sách dồi dào (so với 1980-2000 ngân sách trung ương còn ít) để thực hiện kế hoạch đầu tư quốc gia bằng cách chi tiêu xây cất xa lộ, đường xe hỏa và phi trường nối liền nội địa và ven biển. Năm 1980 vùng duyên hải mời mọc Hoa Kiều hải ngoại về nước làm ăn nhưng cho đến năm 2004 chính các tài phiệt ở ven biển lại dư tiền đầu tư khai thác đất đai và công nhân giá rẻ trong đất liền.

Học kinh nghiệm khi đất đai trở thành mỏ vàng ở vùng duyên hải từ 1980-2000 cho nên các tập đoàn thế lực, đại gia và dân cư ở ven biển tranh nhau đầu cơ địa ốc trong nội địa chuẩn bị chờ giá đất “bốc” lên. Nhiều công ty và kế hoạch “ma” được hình thành chỉ nhằm được nhà cầm quyền địa phương cung cấp đất đai giá rẻ trong đất liền. Cộng thêm khối kích cầu năm 2008 giúp các địa phương bơm tín dụng hổ trợ xây cất hạ tầng – hay đúng hơn là tín dụng bơm bong bón đất đai - khiến nợ tăng lên 300% GDP mà phần lớn dính líu vào các vụ làm ăn đất đai với điển hình là khủng hoảng của tập đoàn địa ốc Evergrande ngay vào lúc này.

Chương kế tiếp sẽ tìm hiểu về mô hình kinh tế Trung Quốc trong năm 2021 – dưới thời đại Tập Cận Bình.



[1] Sì-căng-đanh Evergrande là một trường hợp điển hình mà nhiều nhà quan sát nhận xét làm nổi bật những yếu kém trong hệ thống tài chánh và địa ốc ở Trung Quốc

[2] Việt Nam áp dụng mô hình của Trung Quốc nên đang trở thành một con rồng kinh tế cho dù cứ mỗi vài năm lại bộc phát nhiều mâu thuẩn nội tại khiến giới quan sát lại cho rằng…sắp sụp rồi!

[3] Tăng trưởng GDP là chính yếu cho đến khi Tập Cận Bình bắt đầu thay đổi mô hình với những khẩu hiệu xã hội chủ nghĩa như Thịnh Vượng Chung (Common Prosperity) – nhưng đây là đề tài cho chương sau

[4] Kiểu giống như miền Nam Việt Nam được “viện trợ Mỹ” từ bà con họ hàng ở nước ngoài mà miền Trung và Bắc không có.

[5] Giống y chang miền Nam trong thập niên 90 gởi điện thư qua Mỹ xin gởi về vài ngàn USD lấy vốn làm ăn

[6] Điều này có thể so sánh với tình trạng giành đất - cướp đất hạn chế ở Sài Gòn – Hà Nội nhưng vẫn xãy ra thường xuyên ở thôn quê

[7] So sánh với Mỹ diện tích rộng lớn hơn Trung Quốc nhưng luật lệ áp dụng đồng đều ở mọi tiểu bang mới thấy đây là một thành tích vô cùng quan trọng