Monday, October 25, 2021

Kinh Tế Dễ Hiểu: Mô Hình Kinh Tế Trung Quốc dưới thời Tập Cận Bình (Chương 20)

Nhiều người Hoa cho biết trước năm 2008 một số đông cán bộ, đảng viên và dân chúng Trung Hoa có cùng chung nhận xét là tăng trưởng kinh tế sẽ dẫn đến dân chủ hóa – điểm khác biệt nơi người dân muốn thấy tiến trình này xảy đến nhanh còn đảng Cộng Sản cố tình trì hoãn. Cuộc Đại Khủng Hoảng Tài Chánh 2008 tại Hoa Kỳ khởi đầu cho bước chuyển biến tư duy lớn khi Bắc Kinh kết luận rằng đồng thuận Washington (Washington consensus) và trật tự thế giới tự do (liberal world order) do Mỹ lãnh đạo không hẳn là con đường duy nhất cho phát triển và ổn định, nhất là khi so sánh với mô hình xã hội chủ nghĩa mang màu sắc Trung Hoa vừa mang 300-500 triệu người từ nghèo đói lên sung túc lại đẩy nền kinh tế nhảy vọt lên hàng thứ nhì trên thế giới vỏn vẹn chỉ trong vòng 30 năm dưới sự lãnh đạo tài tình của đảng Cộng Sản.

Bước ngoặc tư tưởng kế tiếp là sự lung lay của nền dân chủ Mỹ trải qua hai kỳ bầu cử 2016 và 2020. Chuyển biến tư duy cuối cùng khi Bắc Kinh tự hào đối phó hữu hiệu với dịch cúm Tàu năm 2020 so với xã hội Tây Phương bất lực và hổn loạn. Ba sự kiện liên tục khiến Tập Cận Bình kết luận Hoa Lục không cần phải dân chủ hóa. Thay vào đó mô hình kinh tế chỉ đạo ở Trung Quốc đã được chứng minh cho thấy có đủ năng lực cạnh tranh với nền kinh tế thị trường của Mỹ. Bài này sẽ tìm hiểu chính sách của Tập Cận Bình thắt chặt sự kiểm soát của đảng lên nền kinh tế như thế nào bắt đầu từ ý thức hệ đó.

***

Mô hình xã hội chủ nghĩa với màu sắc Trung Hoa hiện đang đổi màu từ vàng (xanh nhiều hơn đỏ) thời Đặng sang hồng (đỏ nhiều hơn xanh) thời Tập. Tập Cận Bình đang đối diện với 3 thử thách mà cũng là cơ hội:

  1. GDP Trung Quốc có thể qua mặt Hoa Kỳ sớm là đầu thập niên 2030, trễ là 2040-50.
  1. Dù thành quả kinh tế rực rỡ nhưng khoảng cách giàu nghèo và bất mãn xã hội đe dọa ổn định xã hội và tính chính danh của đảng Cộng Sản Trung Quốc.
  2. Hoa Kỳ nay xem Trung Quốc là một đối thủ chiến lược và cố tình ngăn chận đà tiến của Hoa Lục.

Trước các thử thách đó, Tập kết luận Hoa Lục không cần phải dân chủ hóa mà cũng chẳng phải khép mình vào trật tự thế giới tự do theo Mỹ. Trái lại con đường đi tới là tái khẳng định vai trò lãnh đạo của đảng Cộng Sản nhằm mang lại bình đẳng xã hội và phục hồi Giấc Mộng Trung Hoa. Ba nét lớn trong chính sách kinh tế của Tập gồm:

  1. Khẩu hiệu “Thịnh Vượng Chung” (Common Prosperity) thời Tập đi ngược với lập trường “Không thể mọi người cùng giàu một lúc” (tức là chấp nhận giàu nghèo sai biệt) của Đặng, đồng thời đượm màu sắc xã hội chủ nghĩa thời Mao nhằm giải toả phần nào hố sâu giàu nghèo và mối bất bình trong quần chúng. 
  1. Trong kinh tế cổ điển có 4 phương tiện cấu thành sản xuất gồm Đất Đai, Lao Động, Vốn và Kinh Doanh (Land, Labor, Capital and Entrepreneur). Nay Bắc Kinh cọng thêm vào một yếu tố thứ 5 là Dữ Kiện (Data). 

Do nhà nước Cộng Sản phải làm chủ các phương tiện sản xuất cho nên nhà cầm quyền phải sở hữu mọi Dữ Kiện xã hội. Tập Cận Bình kềm chế hai tập đoàn mạng Alibaba và Tencent để thu thập những dữ kiện xã hội dưới tầm quản lý của đảng, đồng thời ngăn chận mầm móng công ty tư nhân trở thành một thế lực chính trị tác động lên quần chúng và nhà nước như trường hợp Facebook, YouTube và Twitter ở Mỹ.

Về kinh tế nhà nước thu thập các Dữ Kiện xã hội nhằm quản lý việc phân phối vốn và ngân sách, và để phát huy công nghệ chiến lược về trí tuệ nhân tạo.[1]

Về chính trị nhà nước theo dõi các Dữ Kiện xã hội nhằm kiểm soát thông tin và giám sát các mầm móng bất mãn trước khi bùn phát. 

  1. Truyền thống của nhà nưóc Cộng Sản chú trọng vào các ngành kỷ nghệ nặng như sản xuất động cơ, sắt thép, dầu hỏa, than đá v.v… Công nghiệp nặng (hay công nghiệp chiến lược) trong thế kỷ thứ 21 lại gồm Trí Tuệ Nhân Tạo, Chip Điện Tử, Năng Lượng Tái Tạo, Hàng Không và Không Gian, v.v… 

Bắc Kinh đề ra kế hoạch Made In China 2025 để Trung Quốc trước tự túc rồi sau đó dẫn đầu thế giới trong các ngành kỷ thuật chiến lược của thế kỷ thứ 21. Nhu cầu này càng trở nên cấp thiết trong hoàn cảnh tranh chấp Mỹ-Trung khi Hoa Kỳ có ý định phong tỏa Trung Quốc về công nghệ tiên tiến. 

Các mạng xã hội lại không thuộc diện “sản xuất”. Việc Bắc Kinh thất sủng hai đại tập đoàn Alibaba và Tencent là tín hiệu để khuyến khích các tài năng tinh hoa trẻ ưu tiên chọn công ăn việc làm trong những ngành công nghệ chiến lược thay vì mạng xã hội (khác với giới trẻ ở Mỹ ưa chuộng làm việc cho Google, Facebook hay liên quan đến BitCoin v.v…với mức lương và bổng lộc cao.) 

  1. Giống như Amazon ở Mỹ, hai công ty Alibaba và Tencent nắm vai trò huyết mạch trong kinh tế Trung Quốc vào thời gian phong tỏa dịch bệnh Vũ Hán do mọi mua bán đều xảy ra trên mạng. Cho nên không lấy làm lạ khi Bắc Kinh siết chặc quản lý hai công ty này vì không thể để một quyền lực rộng lớn như vậy nằm trong tay tư nhân. 
  1. Ant Financial (Alibaba) và WeChat (Tencent) là công ty và ứng dụng tài chánh mạng thành công nhất thế giới, bỏ xa Apple Pay hay Google Pay. Dân Tàu ngày nay không xài tiền mặt, thay vào đó mua bán qua điện thoại cầm tay. Dựa vào thế mạnh này nên Ant Financial và WeChat thu thập các dữ kiện mạng chuẩn bị cho doanh nghiệp vừa và nhỏ vay vốn thay vì mượn tiền ngân hàng. Ant Financial còn có thêm chương trình cộng tác với đại công ty tài chánh Vanguard ở Mỹ nhằm cung cấp các dịch vụ đầu tư cá nhân cho dân chúng (thay vì dân Tàu chỉ gởi tiết kiệm vào ngân hàng với lãi xuất thấp.) 

Qua hai dịch vụ nói trên nhằm (1) thu hút nguồn vốn từ dân chúng, rồi (2) phân bổ nguồn vốn cho doanh nghiệp nên Ant Financial và TenCent trở thành đối thủ cạnh tranh với ngân hàng nhà nước, ngân hàng địa phương và các lãnh chúa địa phương trước nay độc quyền thu góp tiết kiệm giá rẻ từ quần chúng để cho các công ty quốc doanh và tập đoàn lợi ích vay mượn với phân lời thấp. Do vốn là một trong 5 yếu tố cấu thành sản xuất (xem phần trên) nên đảng Cộng Sản phải kiểm soát dòng vốn. Bắc Kinh siết chặc Ant Financial và Tencent chính là để nhà nước – thay vì thị trường - độc quyền quản lý vốn. 

  1. Cũng liên quan đến tài chánh Bắc Kinh cấm đoán mọi dịch vụ liên quan đến Bitcoin, một phần nhằm ngăn chận chảy máu ngoại tệ nhưng chính yếu vì Bitcoin không nằm dưới sự quản lý của nhà nước. Trái lại Bắc Kinh muốn đẩy mạnh loại Tiền Điện Toán do Ngân Hàng Nhà Nước (CBDC hay Central Bank Digital Currency) nên loại bỏ Bitcoin để triệt hạ một đối thủ cạnh tranh. 
  1. CBDC-TQ sẽ giúp Bắc Kinh kiểm soát dòng vốn, giảm thiểu nạn tham nhũng[2] và không bị che mắt bởi các đầu tư kém hiệu quả. CBDC-TQ có mục tiêu dài hạn là phá vỡ vòng phong tỏa của USD Hoa Kỳ một khi các đối tác thương mại nước ngoài dùng CBDC nên không phải thanh toán mua bán qua hệ thống SWIFT chuyển tiền liên quốc gia bị Mỹ chi phối. 
  1. Một lý do khiến Bắc Kinh chận đứng việc niêm yết ra nước ngoài của Ant Financial và Didi nhằm tránh việc công ty Trung Quốc phải minh bạch hoá trên sàn chứng khoán Mỹ các con số về doanh thu và dịch vụ trong nước, tức là những tin tức mà Bắc Kinh xem như thuộc lãnh vự an ninh quốc gia. 
  1. Giáo dục con cái hiện là một gánh nặng tài chánh cho các gia đình Trung Quốc. Bắc Kinh tăng cường kiểm soát ngành giáo dục mạng và giới hạn giáo viên kềm trẻ em tại tư gia nhằm xoa dịu nổi bất bình trong quần chúng. 
  1.  Bắc Kinh kiểm soát thanh thiếu niên chơi các trò chơi trên mạng không quá 3 giờ đồng hồ mỗi tuần. Cho dù quyền hạn của nhà nước lấn lướt vào gia đình nhưng nhiều cha mẹ Trung Quốc đồng ý với chính sách này do con trẻ ngày nay quá khó dạy dỗ. 
  1. Ở Tây Phương khoảng cách giàu nghèo được giảm bớt bằng cách tăng thuế nhà giàu. Trung Quốc không tăng thuế, trái lại chỉ “khuyến khích” các đại gia “đóng góp” vào các quỹ xã hội.

Ở Mỹ có Kỷ Nguyên Vàng Mạ (Gilded Age) vào cuối thế kỷ thứ 19 khi nền kinh tế được đánh bóng bởi tăng trưởng hào nhoáng bề ngoài, nhưng bên trong là hố sâu giàu nghèo và bất công xã hội. Tiếp theo là Thời Đại Cấp Tiến (Progressive Era) khi báo chí phanh phui các tệ đoan xã hội dẫn đến những cải cách về kinh tế, chính trị và luật lao động.

Nhiều tác giả nhận xét rằng Trung Quốc đang trải qua Kỷ Nguyên Vàng Mạ của chính họ. Nhưng thay vì tự do báo chí và dân chủ hóa để giải trừ các bất cập xã hội thì Bắc Kinh chọn siết chặt sự lãnh đạo của đảng Cộng Sản với mục tiêu mang lại tiến bộ, thịnh vượng và công bình xã hội. Liệu sự kiểm soát của nhà nước có sẽ bóp nghẹt sức sáng tạo của thị trường, hay Bắc Kinh có thể huy động hữu hiệu nhân vật lực nhằm qua mặt Mỹ trong chặng cuối của cuộc đua? Kết quả không quá 10 năm nửa sẽ biết.


[1] Các dữ kiện trên mạng xã hội không những được dùng để theo dõi thị hiếu quần chúng, kiểm soát và lèo lái dư luận mà còn ứng dụng vào trí tuệ nhân tạo. Đảng Cộng Sản Trung Quốc xem trí tuệ nhân tạo như công nghệ chiến lược chủ lực mà Trung Hoa phải dẫn đầu trong thế kỷ 21.

[2] Thống kê cho thấy nơi nào xử dụng tiền điện toán sẽ giảm bớt tham nhũng vì sợ quả tang, nhưng còn những lối tham nhũng khác thì…chưa biết.

Saturday, October 16, 2021

Kinh Tế Dễ Hiểu: Mô Hình Kinh Tế Trung Quốc (Nợ - Chương 19)

Việc công ty địa ốc Evergrande lớn nhất ở Trung Quốc – và cũng là công ty với con số nợ khổng lồ lên đến 350 tỷ USD – có cơ nguy vỡ nợ khiến nhiều người đặt câu hỏi liệu đây có sẽ là bước ngoặc báo nguy giống như khi đại ngân hàng Lehman Brothers phá sản khởi đầu cho cuộc Đại Khủng Hoảng Tài Chánh 2008 ở Mỹ? Kinh Tế Dễ Hiểu cho là chưa phải lúc, và bài này sẽ phân tích bằng cách nào Bắc Kinh trong suốt 40 năm nay đã lèo lái nhiều thách thức gay go không để lan tràn làm suy sụp nền kinh tế.

Trước hết nói về thị trường địa ốc ở Trung Quốc hiện chiến 25-30% GDP – so với 9% GDP ở Mỹ năm 2006 tức là vào lúc cao điểm trước cuộc khủng hoảng địa ốc 2007-08. Nhà đất chiếm 80% tài sản của dân Tàu (so với 40% ở Mỹ). Người Hoa không có nhiều cơ hội đầu tư vào cổ phiếu hay trái phiếu như ở Hoa Kỳ nên để dành tiền mua nhà nhất là khi giá nhà tăng liên tục từ 30 năm nay (trừ những lúc giá cả khựng lại trong ngắn hạn như vào năm 2014.)

Ngành địa ốc ở Trung Quốc nếu suy sụp trong một khoảng thời gian dài sẽ ãnh hưởng đến GDP, và trực tiếp tác động lên dân chúng vốn dựa vào giá nhà như khoảng đầu tư lớn nhất trong đời chuẩn bị cho cưới hỏi, hưu trí hay gia tài để lại con cháu[1]. Cho nên Bắc Kinh vô cùng thận trọng quản lý khủng hoảng địa ốc để không nổ bùng trở thành bất mãn xã hội như trường ở Mỹ năm 2007 vốn dẫn đến Donald Trump và Bernie Sander năm 2016 và 2020.

Khủng hoảng kinh tế nguy hiểm ở chổ từ một đốm lửa nhỏ trong chớp mắt lây lan thành trận cháy rừng, lý do nơi tâm lý hốt hoảng của quần chúng và giới đầu tư mạnh ai nấy ôm đầu máu tháo chạy! Kinh nghiệm Bắc Kinh chận đứng dịch bệnh từ thành phố Vũ-Hán năm 2020, cùng với bài học ngăn chận khủng hoảng tài chánh ở Trung Quốc năm 2016, cho thấy không một nhà cầm quyền nào trên thế giới có đủ uy quyền, hà khắc nhưng hữu hiệu tột cùng như đảng Cộng Sản Trung Hoa nhằm giết chết từ trong trứng nước một cuộc khủng hoảng trước khi lây lan – cho dù là khủng hoảng y tế, kinh tế hay là chính trị[2].

Năm 2016 Bắc Kinh chận đứng thất thoát ngoại tệ bằng cách giới hạn con số USD mang ra nước ngoài. Trung Quốc áp dụng những biện pháp chưa từng thấy như đóng cửa sàn chứng khoáng trong 3 ngày (thay vì vài giờ như ở Mỹ) để ngăn chận giá cả không sụp đổ. Tất cả mọi thông tin xấu đều bị kiểm duyệt, bưng bít và nghiêm trị. Tin dữ không thể lan tràn, tâm lý quần chúng tuy hoang mang đồn đoán xôn xao nhưng không hổn loạn. Bắc Kinh nhờ vậy có thêm vài ngày để chuyển nợ xấu về Trung Ương (dưới dạng các công ty xử lý nợ xấu) nhằm trấn an dân chúng không sợ bị mất tiền và ổn địn thị trường.

Tất nhiên nợ xấu không biến mất, nhưng khi chuyển về Trung Ương thì nhà nước có thể in tiền để trả nợ trong nước (bằng NDT hay Nhân Dân Tệ), hay dùng quỹ dự trử ngoại tệ để trả nợ nước ngoài (bằng USD). Đa số nợ trong nước tập trung vào các tập đoàn địa ốc và công ty quốc doanh ở địa phương (so với khủng hoảng ở Mỹ từ nợ tư nhân) nên việc chuyển nợ xấu tương đối nhanh chóng và dễ dàng. Nợ xấu nhờ đó bị cô lập mà không lây lan.

Bắc Kinh dùng nhiều biện pháp để thanh toán nợ xấu trong nước nhưng đơn giản nhất vẫn là in thêm một ít NDT để trả tiền lời (interest) hàng năm, còn nợ gốc (principal) tự nhiên thu nhỏ dần khi GDP tăng trưởng. In tiền tức lạm phát khiến người dân mất sức mua, nhưng khoảng tiền lời trả hàng năm trả cho nợ xấu được chia ra đồng đều theo đầu người nên không còn là gánh nặng. Riêng nhà cầm quyền và các tập đoàn lợi ích gây ra nợ xấu chỉ bị khiển trách nội bộ.

Bắc Kinh lợi dụng vụ Evergrande đang nổ bùng để làm lộ rõ nhiều manh mối tiền bạc và thế lực ở các địa phương mà chính Trung Ương cũng không biết. Nhưng nếu khủng hoảng trở thành nghiêm trọng và lây lan thì Bắc Kinh sẽ mạnh tay cô lập như vào dịp khủng hoảng tài chánh 2016 hay khủng hoảng dịch bệnh Vũ Hán 2020.

***

Tóm lại Bắc Kinh ngăn chận khủng hoảng bằng các biện pháp sau đây:

  1. Cấp Thời:

-          ngăn chận chuyển tiền ra nước ngoài

-          đóng cửa sàn giao dịch (nếu cần Bắc Kinh có thể cấm mua bán nhà trong 3 tháng để ổn định thị trường!)

-          bưng bít thông tin  

  1. Trung Hạn:

-          chuyển nợ xấu về Trung Ương[3]

-          trừng phạt riêng lẻ từng ngân hàng địa phương. Thí dụ trên sổ sách của một ngân hàng địa phương có nhiều nợ xấu thì riêng ngân hàng này phải chịu phân lời cao khi mượn tiền ngân hàng trung ương.

Bản hàng năm đánh giá thành tích cán bộ giờ đây có thêm hạng mục nợ xấu nhiều hay ít trong địa phương, cho dù là nợ từ các ngân hàng địa phương hay nợ không qua hệ thống ngân hàng (shadow banking[4].)

***

Câu hỏi đặt ra là tại sao Trung Quốc chỉ thanh toán nợ xấu trong Cấp Thời và Trung Hạn mà không thể giải quyết tận gốc ở Dài Hạn?

Cách nhìn dễ hiểu nhất là dùng thí dụ Trung Quốc đặt ra chi tiêu tăng trưởng 7% GDP[5]. Giả sử tăng trưởng thật (năng suất và tiêu dùng của quần chúng) chỉ 4% thì 3% GDP còn lại lấy đâu ra?

1.      Thứ nhất là báo cáo láo 1.5% GDP.

2.      Thứ hai là địa phương dùng hệ thống ngân hàng địa phương bơm tín dụng cho tăng trưởng giả 1.5% GDP (tức là đầu tư không sinh lời hay nợ xấu.) Bơm tiền vào địa ốc ăn vừa nhanh lại ngon nhất là khi các địa phương có quyền xử dụng đất đai “của toàn dân” cung cấp cho những công ty quốc doanh và tập đoàn thế lực cầm cố cho ngân hàng đẻ thành tín dụng.

3.      Nhưng câu chuyện chưa kết thúc vì phải trừ thêm vào đó 1.5% GDP tín dụng đầu tư cho các công ty quốc doanh vay mượn không sinh lời như than đá, thép và xi măng.

4.      Như vậy tổng số tín dụng (từ bong bóng địa ốc và các công ty quốc doanh không sinh lời) tăng lên 3% tức là gần bằng với tăng trưởng thật 4%!

Trong khoảng 1980-2000 khi Trung Quốc còn lạc hậu nên cần sắt thép, xi măng, than điện để xây cất nhà đất, hạ tầng và xí nghiệp nên khoảng đầu tư không sinh lời rất ít và bị che khuất bởi tăng trưởng thật 7-10% GDP mỗi năm. Nhưng đến nay khi GDP tăng trưởng chậm lại, nhu cầu hạ tầng và xây cất nhà đất giảm bớt thì nợ xấu mới lòi ra!

Như vậy tại sao Bắc Kinh không thúc đẩy tiêu thụ nội địa trong dân chúng tăng 3% thay vì nợ xấu đầu tư vào bong bóng đất đai và các công ty quốc doanh không sinh lời?

Thứ nhất, giá nhà tăng liên tục trong 30 năm đến nay chiếm 25-30% GDP và 80% tài sản các hộ gia đình Trung Quốc. Địa ốc tăng nhờ đầu tư tăng, nay cắt nguồn vốn khiến giá nhà sụp đổ tức là dân chúng nghèo đi và bất mãn. Bắc Kinh trong thế cỡi cọp không dám xuống.

Thứ nhì, cắt nguồn vốn từ đất đai tức là siết mạch máu các địa phương trước nay biến đất đai thành nguồn thu nhập để tăng trưởng.

Thứ ba, muốn tư nhân tăng tiêu thụ thì phải lên lương và nâng cao chi phí an sinh xã hội (để dân bớt để dành tiền lo bệnh hoạn, nuôi con và lúc về già) bằng cách bớt tín dụng và đánh thuế vào doanh nghiệp và các tập đoàn thế lực – chính sách lấy của nhà giàu phân phát cho nhà nghèo này đi ngược với mô hình tăng trưởng theo xã hội chủ nghĩa với màu sắc Trung Hoa từ thời Đặng Tiểu Bình.

***

Bắc Kinh có đủ uy lực, sắt thép và hữu hiệu để ngăn chận các khủng hoảng nhưng chỉ là các biện pháp vá víu ngắn và trung hạn. Nếu nợ xấu còn tăng dài hạn sẽ ra sao?

Tiếp tục đầu tư thì giá nhà còn tăng cho đến lúc bớt người mua, tập đoàn đầu tư thu vào không đủ để trả nợ thì sẽ vỡ nợ. Tâm lý thị trường ở Trung Quốc là ỷ lại (moral hazard) nhiều lần được nhà nước nhảy vào can thiệp không cho vỡ nợ nên sau đó giá nhà lại tăng. Nhiều người chờ giá nhà xuống để mua (good time to buy) nên giá nhà không thể tụt hạ.

Nhưng sẽ bớt người mua vì: (1) Trung Quốc đang tiến vào giai đoạn lão hóa (2) GDP Trung Quốc tăng trưởng chậm lại cho nên lương và tiết kiệm tăng chậm so với giá nhà tăng nhanh và quá cao 

Nợ xấu tăng mải thì đến một lúc nào đó nhà nước sẽ gãy xương sống không gánh vác nổi. Liệu nhà cầm quyền có đủ uy lực và hà khắc để tiếp tục đè nén không cho khủng hoảng bùng nổ lây lan hay không chẳng ai biết. Ở Mỹ kinh tế trì trệ sau khủng hoảng; bên Nhật tuy không khủng hoảng nhưng kinh tế vẫn trì trệ; ở Liên Xô trước đây chưa bao giờ có khủng hoảng nhưng kinh tế cứ lụn bại. Cho nên ai cũng muốn thấy khủng hoảng bùng nổ như đi coi pháo bông nhưng đây không phải là dấu hiệu duy nhất cho kinh tế suy thoái.

Liệu suy thoái sẽ xảy đến nhanh hay chậm trong vòng 5 hay 10 năm nửa chẳng ai biết. Mỹ hiện cũng đang mang một núi nợ khổng lồ. Giữa Mỹ và Tàu hai gánh nợ gánh nào gảy trước nước kia sẽ là cường quốc số một vào thế kỷ 2021. Tàu có ưu thế sản xuất hàng hóa, Mỹ có ưu thế in tiền đô-la. Kinh Tế Dễ Hiểu tiên liệu trong khoảng 5-10 năm nửa sẽ có câu trả lời (nếu không sớm hơn trước cuối nhiệm kỳ Biden.)

 

 

 

 

 

 

 

 



[1] Dùng thí dụ Việt Nam: một gia đình ở Saigon thu nhập 30 ngàn USD nhưng căn nhà 500 ngàn USD so với một gia đình ở Mỹ thu nhập 100 ngàn USD nhưng căn nhà 300 ngàn USD, tức là dân Saigon tuy lương thấp nhưng giàu tài sản hơn dân Mỹ! Bù lại gặp khủng hoảng địa ốc thì thiệt hại nặng hơn ở Mỹ. Câu chuyện này đi sâu hơn nửa không còn dễ hiểu vì ở Mỹ mượn tiền mua nhà nên lúc khủng hoảng nhiều người bỏ nhà trong khi ở Việt Nam và Trung Quốc ít có chuyện bỏ nhà, cho nên thị trường địa ốc không thể sụp nhanh như ở Mỹ - Kinh Tế Dễ Hiểu xin dừng nơi đây.

[2] Với mức độ kiểm soát hiện thời Bắc Kinh có thể chận đứng một phong trào quần chúng trong nước không cho lây lan thành cách mạng chính trị như trường hợp Liên Xô và Đông Âu thập niên 1990 hay Cách Mạng Hoa Hồng và Hoa Nhài thập niên 2000.

[3] Nói cho cùng ở Mỹ cũng dùng các biện pháp tương tự nhưng màu mè hơn như vào năm 2007 Bộ Tài Chánh Hoa Kỳ “bảo trợ” cho ngân hàng mạnh J.P. Morgan mua Bear Stearns; hay công hữu hóa hai đại tập đoàn địa ốc Fannie Mae và Freddie Mac năm 2008.

[4] Shadow banking tức là nợ không qua hệ thống ngân hàng nên không báo cáo về Ngân Hàng Trung Ương, gồm nợ tư nhân (A cho B mượn tiền), nợ từ các tập đoàn đầu tư (trust), v.v…

[5] Việt Nam cũng đặt ra chỉ tiêu tăng trưởng GDP giống như Trung Quốc nên cùng chia sẻ vấn nạn này. Trái lại Âu-Mỹ-Nhật không có chỉ tiêu tăng trưởng nên công nhân viên nhà nước không cần đạt hay vượt chỉ tiêu, còn GDP chỉ là kết quả của đầu tư và tiêu thụ tư hay công.

Friday, October 8, 2021

Kinh Tế Dễ Hiểu: Mô Hình Kinh Tế Trung Quốc (Phần 2 - Chương 18)

Sự nghiệp chính trị của đại đế Nã-Phá-Luân chẳng liên hệ gì nhiều đến Trung Quốc nên không biết tại sao ông nổi hứng tuyên bố một câu bất hủ mà giờ này có giá trị của một lời tiên tri “Hãy để Trung Hoa ngủ yên bởi vì khi tỉnh giấc nó sẽ làm rung chuyển thế giới.”

Vào tháng 03/1978 có một sự kiện ít được biết đến nhưng bắt đầu lay thức gã khổng lồ Trung Quốc khi một hợp tác xã nông nghiệp ở Phúc Kiến xin phép được giữ lại phần sản xuất vượt chỉ tiêu để khuyến khích nông dân hăng hái làm việc. Đây là giai đoạn trước Đổi Mới nên viên thư ký đảng bộ của hợp tác xã bị phê bình kiểm điểm. Chỉ 8 tháng sau đó vào cuối năm 1978 Đặng Tiểu Bình tuyên bố cải tổ và mở cửa nền kinh tế. Đề nghị nói trên của hợp tác xã được mang ra thử nghiệm với kết quả sáng chói nên viên thư ký đảng được ban khen.

Tuyên bố của Đặng Tiểu Bình “Giàu sang là vinh quang” trở thành kim chỉ nam cho mô hình phát triển của Trung Quốc kể từ lúc đó. Nền kinh tế Hoa Lục từ lạc hậu nhảy vọt lên đứng hàng thứ nhì trên thế giới chỉ trong vòng 40 năm. Nếu so sánh với Ấn Độ (dân chủ) hay Indonesia (độc tài trước năm 2000) cũng vừa chậm tiến lại đông dân thì Trung Quốc đã bỏ xa hai nước này. Đáng kinh ngạc hơn nửa là Hoa Lục trong bước ban đầu vừa không có các định chế, luật lệ và tập quán của thị trường mà cả đến thị trường cũng không có! Trong suốt chuỗi dài phát triễn chứa đầy những mâu thuẩn giữa một nhà nước tập trung quyền lực và nền kinh tế thị trường, giữa hố sâu giàu nghèo tăng vọt, tình trạng phá hủy môi trường, tham nhũng và hối mại quyền thế…nhưng không bóp chết được tính năng động cạnh tranh mà cứ mỗi vài năm xã hội lại lung lay khi những làn rạn nứt hiển hiện trong nền móng kinh tế[1]. Nhiều nhà quan sát từng cho rằng đây là những thời điểm bắt đầu cho sụp đổ hay suy thoái để rồi lại sai[2]! Tất nhiên nếu tiếp tục bói mò kiểu “Anh sẽ chết” tất nhiên có ngày đúng vì nền kinh tế nào rồi cũng sẽ sụp đổ, nhưng một trong những vấn đề quan trọng nhất của thế kỷ 21 rằng liệu GDP của Trung Quốc có sẽ qua mặt Hoa Kỳ trong thập niên 2030 để trở thành nền kinh tế lớn nhất hoàn cầu hay không thì câu trả lời giờ này vẫn còn mù mờ 50/50.

Một trong những lý do khiến tăng trưởng ở Trung Quốc nhảy vọt vì GDP là mục tiêu tập trung mà Bắc Kinh theo đuổi[3] – so với Hoa Kỳ bị chi phối đa đoan trong vai trò siêu cường toàn cầu còn Âu Châu tìm cách cân bằng giữa phát triển và lối sống hạnh phúc (savoir-vivre). Ở Hoa Lục mỗi địa phương, đảng viên hay cán bộ nhà nước vừa bị đánh giá dựa trên thành tích tăng trưởng lại được khuyến khích bằng cách cho giữ lại phần trăm lợi nhuận. Cho nên nhà nước Trung Quốc tuy mang tiếng xã hội chủ nghĩa nhưng tổ chức gần giống như tập đoàn Mc Donald’s của Mỹ: Ban Quản Lý Công Ty (hay là Trung Ương Đảng) đề ra chỉ tiêu và công thức tăng trưởng chung; mỗi Franchise hay Cơ Sở Nhượng Quyền Thương Mại (hay từng Địa Phương) được nhiều quyền hạn rộng rãi phát huy sáng kiến quảng cáo thương vụ trong địa phận của mình miễn là không được vi phạm mẫu mực của thương hiệu (xã hội chủ nghỉa theo màu sắc Trung Quốc). Mỗi Franchise sẽ nộp X% doanh thu cho Trung Ương và giữ phần lợi nhuận còn lại, lời nhiều hưởng nhiều lời ít hưởng ít.

Tuy nhiên chính vì tập trung vào tăng trưởng GDP nên nhiều vấn đề tồn đọng trong kinh tế và xã hội không được quan tâm đúng mức sinh ra phát triễn không bền vững, khoảng cách giàu nghèo tăng vọt, môi trường bị hủy hoại và sự bùn phát của nạn tham nhũng hối lộ tràn lan trong xã hội.

Khi họ Đặng tuyên bố “Không thể nào mọi người cùng giàu một lúc” sau đó cho thành hình những đặc khu kinh tế vùng ven biển tức mặc tình chấp nhận giàu nghèo sai biệt giữa miền duyên hải (400 triệu người Hoa sinh sống) và đất đai nằm sâu trong nội địa (800 triệu còn lại.) Chính sách của Đặng Tiểu Bình đi ngược 100% với Mao Trạch Đông vì họ Mao bần cùng hóa đô thị bằng cách đưa dân chúng thành phố vào các hợp tác xã nông thôn để bình đẳng nghèo khổ như nhau (họ Mao đồng thời chuẩn bị kế hoạch phòng thủ chiều sâu lấy nội địa làm hậu cần trong trường hợp Trung Quốc bị tấn công.)

Tiếp theo cuộc thí nghiệm thành công của hợp tác xã nông nghiệp Phúc Kiến nói trên Bắc Kinh thúc đẩy phát triễn bằng cách cho phép những địa phương tăng trưởng vượt chỉ tiêu được giữ lại nhiều lợi ích kinh tế trong khu vực, còn giới lãnh đạo sẽ thăng quan tiến chức. Trong khoảng thời gian 1978-2004 Hoa Lục còn là một nước đang phát triển nên Bắc Kinh không có ngân sách trung ương dồi dào để phân phối cho các địa phương thực hiện kế hoạch tăng trưởng. Bù lại mỗi địa phương được rộng quyền phát huy sáng kiến (trong khuông khổ chính trị mà Bắc Kinh cho phép) và nhiều quyền hạn to lớn như trưng thu đất đai “của toàn dân” rồi bán lại quyền xử dụng đất. Các địa phương được phép ban hành tín dụng qua hệ thống ngân hàng địa phương để thúc đẩy đầu tư. Cho nên đất đai trở thành nguồn lợi chính còn tín dụng tức là đầu cầu tăng trưởng của từng khu vực, cả hai lại là chìa khóa mỏ vàng mà các lãnh chúa địa phương và những tập đoàn thế lực sau này năng nổ tìm đủ mọi sáng kiến khai thác.

Trong những năm đầu sau khi mở cửa kinh tế nông thôn phát triển nhanh hơn thành phố. Lý do các hợp tác xã nông nghiệp có thể nhanh chóng tăng gia sản xuất lúa gạo trong khi thành phố thiếu người có vốn và kiến thức đầu tư sau hơn 30 năm sống dưới chế độ cộng sản. Dân chúng và cán bộ đều hoang mang chưa biết khuông khổ Đổi Mới rộng hẹp thế nào để tránh vi phạm, thí dụ giá cả do nhà nước hay thị trường quyết định, sở hữu tư nhân nhiều ít đến mức nào…

Bù lại dân cư Thượng Hải và những vùng ven biển vừa mang dòng máu làm ăn lại được thêm một lợi thế mà nông thôn không thể có tức các quan hệ bà con họ hàng với Hồng Kông – Đài Loan – Mã Lai – Singapore [4]. Những vùng duyên hải tranh nhau mời mọc Hoa Kiều về nước đầu tư qua các đường dây quen biết chằng chịt thay vì tổ chức hệ thống trong khuông khổ của những Văn Phòng Phát Triễn và Đầu Tư theo kiểu Nam Hàn và Đài Loan - bởi vì lúc đó ở Trung Quốc không có tầng lớp cán bộ hay kế hoạch đầu tư nào hữu hiệu bằng kiểu “giật dây” những mối liên hệ tư nhân nói trên[5]. Nhờ vậy nảy sinh truyền thống cạnh tranh mà sau này giúp cho cán bộ và tư nhân năng động đầy sáng kiến cho dù phải sống trong mô hình chuyên chế độc đảng. Bù lại nạn tham nhũng, hối lộ, bè phái, bôi trơn bùn phát bởi vì đầu tư ngay từ lúc ban đầu đã không được quy hoạch bởi một tầng lớp chuyên viên kinh tế độc lập và khách quan.

Khoảng năm 1993 có 3 thay đổi quan trọng nhưng dính chặt với nhau: (1) quyền sở hữu tư nhân, (2) tư hữu hóa một số doanh nghiệp nhà nước và (2) thu hút đầu tư Tây Phương:

Công ty Âu-Mỹ-Nhật chỉ bỏ vốn khi quyền tư hữu được bảo đảm;

Doanh nghiệp nhà nước được tư hữu hóa bán cho các nhóm thế lực gồm cựu viên chức nhà nước “nhảy rào” làm ăn;

Những đặc khu kinh tế vùng ven biển được tư bản Âu-Mỹ-Nhật đào tạo để cho ra đời luật thương mại, quyền sở hữu tư nhân cùng các định chế đầu tư.

Dân cư vùng duyên hải trở nên giàu có, làm ăn với nước ngoài, xuất ngoại thường xuyên nên am hiểu quyền lợi và luật pháp nên không còn dễ bị bắt nạt như người sống dưới quê. Kết quả là cho đến ngày hôm nay Trung Quốc chia ra thành 2 khu vực cả về kinh tế lẫn luật pháp:

- giàu (ven biển) và nghèo (nội địa)

- luật pháp tương đối được tôn trọng (ven biển) hay luật rừng (nội địa)[6]

Khoảng cách giữa 2 vùng được ước đoán cách biệt 20-30 năm[7].

Một trường hợp điển hình là nạn quấy nhiễu (harassment) và tham nhũng vặt (petty corruption) giảm dần ở ven biển trong khi tiếp tục thịnh hành trong đất liền. Bắc Kinh quy định mức lương thấp tương đối đồng đều cho công nhân viên quan chức trên toàn quốc để tránh bị xem phân biệt đối xử. Lương ít không đủ sống ở Thẩm Quyến, Thượng Hải nên trước đây cán bộ nhà nước bắt buộc phải tham nhũng hối lộ rồi ăn chia. Đến khi kinh tế tăng trưởng, viên chức cấp nhỏ không còn dám đụng chạm đến các tập đoàn thế lực và doanh nghiệp cỡ lớn trong khi dân chúng cũng hiểu biết luật lệ để sừng sỏ gây lại. Vùng duyên hải được giữ lại phần tăng trưởng vượt chỉ tiêu nên cấp phát bổng lộc hay phần thưởng giá trị gia tăng (bonus) chia ra cho cán bộ nhân viên trong địa phương. Tăng trưởng càng cao thì phần thưởng càng nhiều khiến cán bộ nhà nước bỏ thói tham nhũng vặt và quấy nhiễu doanh nghiệp, thay vào đó hợp tác tạo cơ hội cho doanh nghiệp càng nhiều lợi nhuận thì bổng lộc càng lớn. Cho nên cán bộ địa phương thay vì “điều hướng doanh nghiệp” (theo mô hình xã hội chủ nghĩa) nay trở thành “phục vụ doanh nghiệp” (sau này sinh “cấu kết với doanh nghiệp” bằng cách cấp phát đất đai với giá rẻ, đàn áp công nhân đòi tăng quyền lợi và che dấu các vi phạm môi trường.) Bù lại ở các vùng nội địa vì tăng trưởng chậm, doanh thu thấp còn chưa thoát khỏi các tệ trạng quấy nhiễu và tham nhũng con.

Bốn vấn đề mới lại nảy sinh ra ở vùng duyên hải. Thứ nhất, tăng trưởng càng nhanh thì địa phương càng nhiều lợi tức để tưởng thưởng những cơ quan và cán bộ đạt thành tích cao. Loại cán bộ thư viện chẳng thể nào thu hoạch vẻ vang bằng cán bộ thuế vụ hay phát triễn đô thị, cho nên cùng trong cùng một ngạn ngạch mà công nhân viên chức giàu nghèo khác nhau một trời một vực!

Thứ hai là thành tích dựa trên kết quả tức thời thấy được như con số tăng trưởng. Bù lại những vấn đề về an sinh xã hội hay môi trường chỉ chi mà không thu nên bị bỏ quên cho đến khi tình trạng trở nên tệ hại đến mức trung ương phải can thiệp do dân chúng biểu tình phản đối. Trong những năm gần đây cán bộ nhà nước than phiền bị đánh giá theo quá nhiều hạn mục bao gồm tăng trưởng, môi trường, an sinh xã hội, không có tụ tập biểu tình trong khu vực v.v…cho dù những món nay bị xem là “hình thức” nhưng các phe cánh dựa vào những phụ mục nói trên để “quật” lẩn nhau khi cần thiết.

Thứ ba là trong khi đầu tư nước ngoài vào thập niên 1980 dựa vào quan hệ thân hữu nhưng đến năm 2000 thì các vùng duyên hải trở nên giàu đâm ra chọn lọc đầu tư cỡ lớn. Các tập đoàn chiến lược, nhiều doanh thu hay nhiều thế lực được ưu đãi nhằm loại bỏ các công ty con để chiếm đoạt thị trường và đất đai.  Nhưng cũng chính từ quá trình gạn lọc này giúp ra đời một đội ngũ chuyên viên kinh tế chuyên nghiệp được tổ chức theo mô hình của các Văn Phòng Phát Triển và Đầu Tư theo kiểu Nam Hàn và Đài Loan quản lý đầu tư trở thành hệ thống và lâu dài.

Thứ tư là trong khi nạn tham nhũng vặt (petty theft) và bôi trơn (grease money) giảm ở vùng duyên hải thì ngược lại tham nhũng gộc (grand corruption) và cấu kết bè phái (access money) trở nên thịnh hành nhằm tranh đoạt các thị trường địa ốc hay những khoảng thầu trị giá hàng chục hay trăm tỷ đô-la. Từ năm 2000 chính là lúc mà các thái tử đỏ và những ông hoàng đỏ (red barons) như Bạc Hy Lai (Ủy Viên Trung Ương Đảng), Chu Vĩnh Khang (Bộ Trưởng Bộ Công An) Lưu Chí Quân (Bộ Trưởng Bộ Đường Sắt) trở nên nổi tiếng như cồn mà sau này bị Tập Cận Bình triệt hạ.

Tác giả Yuen Yuen Ang so sánh tình trạng tham nhũng cấu kết (access money) hiện thời tại Trung Quốc với Thời Đại Vàng Mã (Gilded Age) ở Mỹ vào cuối thế kỷ thứ 19. Đây là giai đoạn nền kinh tế mà Hoa Kỳ tăng trưởng vượt bực song song với hố sâu giàu nghèo và bất công xã hội, lại cũng là lúc nổi lên các ông Vua Dầu Hỏa (Rockfeller), Vua Ngân Hàng (J.P. Morgan), Vua Đường Sắt (Stanford) nhiều tiền bạc cấu kết với các thế lực chính trị để tranh đoạt đất đai và các khoảng thầu đầu tư cực kỳ lớn…Thời Đại Vàng Mã ở Mỹ được tiếp nối bởi Giai Đoạn Cấp Tiến (Progressive Era) nhờ vào tự do báo chí vạch trần các tệ nạn xã hội để thúc đẩy cải tổ về luật lao động và thương mại chống độc quyền. Ngược lại Thời Đại Vàng Mã hiện thời ở Trung Quốc đi vào con đường ngược lại là kiểm duyệt ngôn luận nhằm tập trung quyền hạn để Đảng Cộng Sản (tức là Tập Cận Bình) chỉ đạo giải quyết hố sâu giàu nghèo, triệt hạ những siêu đại công ty nhiều thế lực (như Alibaba và TenCent) và lành mạnh hóa thị trường đầu tư (Evergrande) – nhưng đây là đề tài của chương kế tiếp.

Trở lại với khoảng cách giàu nghèo giữa các vùng duyên hải và trong đất liền, năm 2004 là lúc mà Bắc Kinh có một ngân sách dồi dào (so với 1980-2000 ngân sách trung ương còn ít) để thực hiện kế hoạch đầu tư quốc gia bằng cách chi tiêu xây cất xa lộ, đường xe hỏa và phi trường nối liền nội địa và ven biển. Năm 1980 vùng duyên hải mời mọc Hoa Kiều hải ngoại về nước làm ăn nhưng cho đến năm 2004 chính các tài phiệt ở ven biển lại dư tiền đầu tư khai thác đất đai và công nhân giá rẻ trong đất liền.

Học kinh nghiệm khi đất đai trở thành mỏ vàng ở vùng duyên hải từ 1980-2000 cho nên các tập đoàn thế lực, đại gia và dân cư ở ven biển tranh nhau đầu cơ địa ốc trong nội địa chuẩn bị chờ giá đất “bốc” lên. Nhiều công ty và kế hoạch “ma” được hình thành chỉ nhằm được nhà cầm quyền địa phương cung cấp đất đai giá rẻ trong đất liền. Cộng thêm khối kích cầu năm 2008 giúp các địa phương bơm tín dụng hổ trợ xây cất hạ tầng – hay đúng hơn là tín dụng bơm bong bón đất đai - khiến nợ tăng lên 300% GDP mà phần lớn dính líu vào các vụ làm ăn đất đai với điển hình là khủng hoảng của tập đoàn địa ốc Evergrande ngay vào lúc này.

Chương kế tiếp sẽ tìm hiểu về mô hình kinh tế Trung Quốc trong năm 2021 – dưới thời đại Tập Cận Bình.



[1] Sì-căng-đanh Evergrande là một trường hợp điển hình mà nhiều nhà quan sát nhận xét làm nổi bật những yếu kém trong hệ thống tài chánh và địa ốc ở Trung Quốc

[2] Việt Nam áp dụng mô hình của Trung Quốc nên đang trở thành một con rồng kinh tế cho dù cứ mỗi vài năm lại bộc phát nhiều mâu thuẩn nội tại khiến giới quan sát lại cho rằng…sắp sụp rồi!

[3] Tăng trưởng GDP là chính yếu cho đến khi Tập Cận Bình bắt đầu thay đổi mô hình với những khẩu hiệu xã hội chủ nghĩa như Thịnh Vượng Chung (Common Prosperity) – nhưng đây là đề tài cho chương sau

[4] Kiểu giống như miền Nam Việt Nam được “viện trợ Mỹ” từ bà con họ hàng ở nước ngoài mà miền Trung và Bắc không có.

[5] Giống y chang miền Nam trong thập niên 90 gởi điện thư qua Mỹ xin gởi về vài ngàn USD lấy vốn làm ăn

[6] Điều này có thể so sánh với tình trạng giành đất - cướp đất hạn chế ở Sài Gòn – Hà Nội nhưng vẫn xãy ra thường xuyên ở thôn quê

[7] So sánh với Mỹ diện tích rộng lớn hơn Trung Quốc nhưng luật lệ áp dụng đồng đều ở mọi tiểu bang mới thấy đây là một thành tích vô cùng quan trọng

Sunday, September 26, 2021

Kinh Tế Dễ Hiểu: Mô Hình Kinh Tế Trung Quốc (Chương 17)

Mô hình phát triển của Trung Quốc có thể được tóm tắt như sau: (1) hạn chế tiêu thụ trong nước để (2) gom góp tiết kiệm trong dân chúng nhằm (3) hổ trợ cho đầu tư.

Nếu so sánh cho dễ hiểu thì mô hình này cũng giống kiểu nhà nghèo bớt tiêu xài (hạn chế tiêu thụ) để dành tiền (tăng tiết kiệm) đầu tư cho tương lai (giáo dục con cái, mở cửa hàng buôn bán). Nhưng đến khi đã hết nghèo mà vẫn giữ tính hà tiện không chịu tiêu xài sanh tham lam vơ vét của cải (thặng dư mậu dịch với nước ngoài) dù trong nhà đã chứa đầy những thứ không cần thiết (nợ xấu do đầu tư quá đáng trong nước). Chính sách của Bắc Kinh đã dẫn đến tình trạng chênh lệch cán cân mậu dịch giữa Trung Quốc với toàn thế giới, rồi tiếp theo đó là khối nợ khổng lồ như hiện nay. Kinh Tế Dễ Hiểu sẽ lần lượt tìm hiểu về Tiêu Thụ, Tiết Kiệm và Đầu Tư ở Trung Quốc.

Tiêu Thụ tại Trung Quốc

Tiêu thụ tư nhân ở Trung Quốc chiếm 40% GDP tức là rất thấp so với các nước phát triển khoảng 60% và Hoa Kỳ là 70%. Bắc Kinh hạn chế tiêu thụ nhằm thu hút tiết kiệm trong dân chúng hổ trợ đầu tư.

Một lý do khiến mức tiêu thụ thấp vì người Tàu (và châu Á nói chung) ít ăn xài hơn Tây Phương, một phần do thế hệ lớn tuổi ở Trung Quốc còn bị ám ảnh bởi cảnh nghèo khó cùng cực chỉ mới 30 năm trước đây.

Bên cạnh đó là chính sách của nhà cầm quyền tạo ra 3 tầng áp lực hạn chế mức tiêu thụ của người dân:

(1) chế độ ép lương,

(2) mạng lưới an sinh xã hội yếu kém,

(3) chính sách thao túng tiền tệ của Bắc Kinh.

Công nhân Trung Quốc di cư từ thôn quê ra đô thị làm việc nhưng không được cấp phát hộ khẩu thành phố. Do tình trạng cư ngụ bán chính thức này nên công nhân không được quyền tập hợp hay tham dự công đoàn địa phương để đòi tăng lương và cải thiện chế độ làm việc. Cho dù có nhiều hảng xưởng cạnh tranh thuê mướn nhân viên khiến mức lương và quyền lợi người lao động tại Hoa Lục lên cao nhưng vẫn không tương xứng với đà tăng năng suất và nhịp độ phát triển nhảy vọt của GDP. Thí dụ GDP tăng 10% mỗi năm trong khi lương bổng chỉ tăng 7%, tức là thu nhập tuy nhảy vọt nhưng vẫn không bắt kịp với GDP. Nói cách khác, nước giàu nhưng dân chúng không được hưởng trọn vẹn thành quả lao động của mình.

Mức sai biệt giữa tiền lương và năng xuất lao động bị ăn bớt để trở thành lợi nhuận cho doanh nghiệp và nhà nước dùng tái đầu tư – tức là đúng như phê bình của Karl Marx rằng tư bản đỏ ăn chận giá trị thặng dư lao động để làm giàu trên xương máu công nhân.  Nhờ có nhiều tiền đầu tư nên hạ tầng phát triễn và hảng xưởng mọc lên như nấm, chế độ ép lương tuy tạo công ăn việc làm cho dân Tàu nhưng đồng thời đào sâu khoảng cách giàu nghèo trong xã hội do lợi nhuận bị cắt xén vào tay nhà nước và giới chủ. Hơn thế một khi nền kinh tế Trung Quốc đã trưởng thành như hiện nay, hay là nhu cầu xây cất giảm bớt nhưng đầu tư vẫn cứ tiếp tục thặng dư đổ vào thì phải sinh ra nợ xấu – nhưng đây là câu chuyện ở phần Đầu Tư dưới đây.

Do chính sách một con nên người Tàu sợ đơn lẻ lúc về già phải để dành tiền lo cho tuổi về hưu. Giáo dục và y tế tốt cho các gia đình ở những đô thị lớn như Bắc Kinh, Thượng Hải và Thẩm Quyến nhưng lại không bao gồm công nhân không có hộ khẩu thành phố. Mạng lưới an sinh vẫn còn thiếu sót ở những vùng nông thôn khiến dân chúng phải hạn chế tiêu thụ lúc mới lập gia đình để dành tiền nuôi con và phòng khi bệnh hoạn. 

Các quy định lỏng lẻo về môi trường trước năm 2012 cũng thể hiện sự yếu kém của mạng an sinh xã hội. Doanh nghiệp và nhà nước không chi tiêu bảo vệ không khí trong lành và nguồn nước sạch trong khi dân chúng tốn kém vì mất ngày làm việc, lo chữa bệnh ho, suyễn, ung thư...nên sức tiêu thụ giảm sút.

Chính sách thao túng ngoại tệ khiến đồng NDT (Nhân Dân Tệ) mất giá so với USD. Trung Quốc nhập cảng xăng dầu và lương thực bằng USD nên hàng tiêu dùng trở nên đắt đỏ. Sức mua của dân Tàu thêm một lần nửa bị hạn chế nhằm tạo lợi thế cạnh tranh cho doanh nghiệp khi giá trị đồng NDT bị cắt xén.

Tiết kiệm tại Trung Quốc

Tiêu thụ tư nhân tại Trung Quốc chiếm 40% GDP trong khi ở các nước phát triển là 60% còn Hoa Kỳ 70%. Chênh lệch trong tiêu thụ dẫn đến thặng dư tiết kiệm ở Hoa Lục so với Tây Phương.

Dân Tàu không có nhiều chọn lựa đầu tư mà phải bỏ tiền vào trương mục tiết kiệm tại ngân hàng với lãi suất thấp do nhà nước quy định. Thí dụ GDP tăng 7% nhưng tiết kiệm ngân hàng thấp chỉ 1.5%. Muốn lời nhiều phải đầu tư vào chứng khoán nhưng thị trường tài chánh ở Trung Quốc thiếu minh bạch nên mua bán trên sàn cũng giống như đánh bài cào, thỉnh thoảng ăn lớn nhưng thường là thua to[1]. Kết quả là người Tàu phần lớn để dành tiền trong trương mục tiết kiệm để lo cho gia đình và với mục tiêu mua nhà vì thị trường địa ốc cứ tăng đều đặn trong vòng 30 năm nay (cho dù có những giai đoạn vấp ngã như năm 2014.)

Các ngân hàng nhà nước nhận vào tiết kiệm rẻ sau đó cho địa phương, những công ty quốc doanh và các ngành công nghiệp mũi nhọn vay theo phân lời thấp. Nói cách khác, đây là chính sách ép buộc tài chánh (financial repression) thu mua tiết kiệm từ dân chúng với giá rẻ nhằm tài trợ cho doanh nghiệp và các mục tiêu tăng trưởng do Bắc Kinh đề ra, theo kiểu lấy tiền nhà nghèo giúp nhà giàu.

Vì tiết kiệm liên quan đến góp vốn nên xin bàn rộng ra về phương thức gây vốn ở các địa phương. Bắc Kinh tuy đề ra chỉ tiêu tăng trưởng GDP cho cả nước nhưng lại không dự trữ ngân sách từ trung ương chia ra cho các địa phương thực hiện mục tiêu này. Bù lại các địa phương được rộng quyền gây vốn (nhưng không được tùy tiện tăng thuế.) Giữa các địa phương lại được khuyến khích tranh đua: nơi nào vượt chỉ tiêu tăng trưởng sẽ giữ lại nhiều lợi tức trong khi hàng ngũ cán bộ đảng viên được thăng quan tiến chức.

Rút tỉa bài học tư bản nước ngoài tháo vốn bỏ chạy khỏi Thái Lan và vùng Đông-Á năm 1998 nên Bắc Kinh quy định thêm là các địa phương không được mượn vốn. Bù lại các địa phương được quyền ấn hành tín dụng qua hệ thống ngân hàng địa phương, và được bán quyền xử dụng đất. Hai đặc quyền này là chìa khóa kho vàng để các lãnh chúa địa phương thò tay bóc hốt.

Tổng hợp các chính sách nói trên trở thành một cổ máy tăng trưởng. Các địa phương trưng dụng đất đai “của toàn dân” rồi bán quyền xử dụng đất cho các tập đoàn lợi ích với giá rẻ. Ngân hàng địa phương thu hút tiết kiệm với lãi xuất thấp để rồi ấn hành tín dụng cho các công ty quốc doanh và những ngành công nghiệp mũi nhọn vay mượn. Các công ty quốc doanh xây cất phi trường, xa lộ…trong khi tập đoàn lợi ích mua quyền xữ dụng đất và vay vốn với giá rẻ để xây cất khu đô thị, khu công nghiệp, khu nhà ở v.v… Sau đó những tập đoàn lợi ích lại cầm cố tài sản để vay mượn tín dụng mới từ các ngân hàng địa phương. Dân chúng đổ xô mua nhà vì giá địa ốc tăng, khiến tài sản cầm cố thêm giá trị để mượn vào nợ mới. Vòng xoáy vay nợ cấn nợ để vay nợ mới dựa vào quyền lực vô tận của các lãnh chúa địa phương rất hữu hiệu để làm giàu nên dễ sinh ra lạm dụng.

Đầu tư và vốn ở Trung Quốc

Tiếp tục bàn về vốn đầu tư, Trung Quốc có 2 dòng tiền: dòng vốn FDI đầu tư trực tiếp từ nước ngoài để xây cất hảng xưởng, và dòng vốn tiết kiệm trong nước.

Một cách nhìn khác là vốn FDI kém lưu động (một nhà máy đã được xây cất không dễ di dời). Loại vốn còn lại dễ lưu động dùng cho vay nợ, mua bán nợ hay mua bán chứng khoáng. Trận đại khủng hoảng tài chánh Đông Á năm 1998 khởi đầu do tài phiệt quốc tế ồ ạt rút vốn lưu động bằng cách bán nợ và chứng khoán, đổi ra USD để mang tiền rút khỏi Thái Lan khiến đồng Bhat thủng đáy. Sau đó các đồng tiền Phi Luật Tân, Nam Dương, Nam Hàn…bị lần lượt tấn công khiến những nền kinh tế này ngã nhau dẫn đến xáo trộn nhiều chính trị và xã hội.

Bắc Kinh nghiên cứu rất kỷ kinh nghiệm này (nhất là bài học của các chính quyền độc tài ở Đài Loan, Nam Hàn, Phi và Nam Dương bị lật đổ) nên chỉ khuyến khích vốn FDI (không lưu động) bằng cách chiêu dụ tư bản Tây Phương xây cất nhà máy để thâm nhập vào thị trường khổng lồ của Trung Quốc. Ngược lại dòng vốn lưu động cho vay dựa vào tiết kiệm trong nước để tránh tình trạng tư bản quốc tế tháo vốn như tại Thái Lan năm 1998.

Trong một thị trường tài chánh mở cửa (financial liberalization) thì việc cho vay, mua bán nợ và mua bán chứng khoán đều được tự do trao đổi trên sàn giao dịch giữa các tư nhân trong và ngoài nước. Trái lại dòng vốn từ tiết kiệm ở Trung Quốc không được tự do lưu thông mà bị Bắc Kinh kiểm soát chặc chẻ. Chẳng những Bắc Kinh quy định lãi xuất thấp khi dân chúng gởi tiền tiết kiệm vào ngân hàng, mà dòng vốn còn được ngân hàng nhà nước ưu tiên cung cấp cho các công ty quốc doanh và những tập đoàn lợi ích vay mượn với giá rẻ. Như vậy nhà nước (thay vì thị trường) quyết định lãi suất và lựa chọn đầu tư.

Đầu tư nếu xét cho cùng chỉ nhằm 3 mục tiêu: sản xuất hàng hóa bán trong nước (tiêu thụ nội địa), bán hàng ra nước ngoài (xuất cảng) và đầu tư xây cất hạ tầng (giáo dục, y tế, đô thị, giao thông, Internet, v.v…) Do tiêu thụ nội địa bị kềm hãm ở mức 40% GDP (so với 60% ở Tây Phương và 70% bên Mỹ) nên thặng dư đầu tư bắt buộc phải đổ vào xuất cảng hay xây cất hạ tầng.

Trước năm 2008 Trung Quốc khởi đầu từ một nước chậm tiến nên cần rất nhiều các khoảng đầu tư xây cất đô thị, xa lộ, phi trường, khu công nghiệp…Nhờ mở cửa thu hút FDI từ nước ngoài, lương nhân công rẻ, hạ tầng được cải tiến cùng các quy định dễ dãi về môi trường nên Trung Quốc thu hút nhiều công ty Âu-Mỹ-Nhật-Đài Loan-Nam Hàn xây cất hảng xưởng, tạo công ăn việc làm để trở thành công xưởng sản xuất hàng hóa ra thế giới. Nói cách khác những khoảng đầu tư dùng tiền tiết kiệm trong nước đem lại lợi ích tăng trưởng kinh tế trong giai đoạn đầu 1980-2008. Cho dù vốn thất thoát thành nợ xấu cũng được khỏa lấp bởi thặng dư mậu dịch và đà tăng trưởng kinh tế (tỷ lệ nợ xấu teo lại so với GDP nở to).

Đến năm 2008 cuộc Đại Khủng Hoảng Tài Chánh ở Hoa Kỳ và sau đó là Khủng Hoảng Euro bên Âu Châu khiến nhu cầu nhập cảng hàng hóa từ Trung Quốc giảm mạnh. Dù vậy Bắc Kinh không hạ thấp mục tiêu tăng trưởng GDP mà tung ra một gói kích cầu khổng lồ 13% GDP. Gói kích cầu lại không nhằm tăng mức tiêu thụ trong nước để bù đắp cho khoảng trống tiêu thụ ở nước ngoài. Tuy kích cầu nhưng tiêu thụ nội địa không tăng trong khi xuất cảng giảm nên tiền chỉ có một con đường duy nhất chạy vào xây cất hạ tầng.

Nhưng đến năm 2008 nền kinh tế của Trung Quốc đã trưởng thành. Nhu cầu hạ tầng giảm dần vì các khu đô thị, xa lộ, phi trường, xe lửa cao tốc đã mọc lên như nấm. Dân số già nua khiến nhu cầu xây cất cũng giảm xuống. Cho nên một phần lớn các khoảng kích cầu rơi vào đầu tư không hiệu quả, hay là nợ xấu do xây cất khu nhà không người ở, khu thương xá không người mua, các phi trường không khách đến.

Một yếu tố khác là khoảng kích cầu 586 triệu USD năm 2008 không phải là tiền mặt do Bắc Kinh chia cho các địa phương mà chỉ là tín dụng trung ương cho phép địa phương phát hành để đầu tư. Được thoải mái ấn hành tín dụng nên cổ máy tăng trưởng của các địa phương chạy hết ga cho dù cho vay đầu tư kém hiệu quả. Đến năm 2012 Bắc Kinh nhận thấy quá nhiều nợ xấu nên hạ lệnh các ngân hàng địa phương cắt giảm tín dụng (dù không hạ thấp chỉ tiêu tăng trưởng GDP !) Những khu nhà dù không người ở hay các thương xá vắng người qua lại nhưng đang xây cất không thể bỏ dở nửa chừng, nên các địa phương “sáng kiến” cho những ngân hàng địa phương ấn hành sản phẩm làm giàu (WMP – Wealth Management Product) với phân lời cao để thu hút tiền tiết kiệm từ dân chúng. Tiền gởi vào WMP được dùng để tiếp tục cho vay xây cất hạ tầng và tăng trưởng kinh tế tại địa phương cho vượt chỉ tiêu GDP.

Do Ngân Hàng Trung Ương lúc ban đầu chỉ thanh tra nợ xấu trong các khoảng tính dụng cho vay từ quỹ tiết kiệm của dân chúng, nên những khoảng tín dụng cho vay từ WMP không bị kiểm soát. Các WMP tuy phân lời cao nhưng ngắn hạn, tức là địa phương cứ phải ấn hành WMP (nợ mới) để trả nợ cũ. 

Từ năm 2012-2016 nợ mới cứ bồi vào nợ cũ khiến Ngân Hàng Trung Ương hoảng sợ bắt đầu kiểm soát WMP. Bắc Kinh lại quyết định cho một vài công ty đầu tư và WMP phá sản để trừng phạt giới đầu tư. Tin xấu lan nhanh khiến thị trường tài chánh và địa ốc hổn loạn làm chảy máu ngoại tệ mất 1000 tỷ USD.

Bắc Kinh hoảng hốt siết chặc không cho tiền chạy ra nước ngoài, mặc khác lại ra lệnh ngân hàng trung ương tài trợ các khoảng nợ xấu để không cho WMP và các địa phương phá sản. Nói cách khác, Tập Cận Bình lạnh cẳng (cold feet) thay vì trừng phạt nợ xấu lại phải thối lui bao che các lãnh  chúa địa phương để tránh xáo trộn chính trị. Từ đó cho đến nay Ngân Hàng Trung Ương dù tiếp tục kiểm soát các ngân hàng địa phương và WMP nhưng nợ đã lên đến 300% GDP.

Năm 2014 các khu phố không người ở mọc ra như nấm nên Bắc Kinh phải chi tiền tài trợ cho dân cư các khu ổ chuột dọn vào khu phố mới. Giá nhà đất tăng vọt vì giới kinh doanh nhận thấy đây là cơ hội mua nhà giá thấp, và cho dù có thành bong bóng địa ốc nhưng trung ương sẽ cứu vớt để các địa phương và ngành địa ốc không bị sập tiệm. Chương trình tài trợ cho dân nghèo mua nhà chấm dứt vào năm 2018, nhà đất lại bắt đầu xuống giá trong khi các tập đoàn địa ốc ngày thêm ngập nợ.Tập đoàn Evergrande lớn hàng đầu ở Trung Quốc có thể bị vỡ nợ ngay vào lúc này chính là thử thách lần thứ hai liệu Tập Cận Bình có dám cải tổ hệ thống tài chánh hay rồi chùn tay cứu vớt ngành địa ốc vì sợ khủng hoảng sẽ kéo theo xáo trộn về chính trị, xã hội và đụng chạm đến các tập đoàn lợi ích.

Dịch cúm Tàu và các gói kích cầu khổng lồ ở Mỹ bất ngờ tiếp hơi cho Bắc Kinh vì hàng Trung Quốc bán không kịp chở sang Hoa Kỳ. Xuất cảng tăng tức là khoảng bơm máu cho Trung Quốc bù đắp phần nào nợ xấu.

Vấn đề của Bắc Kinh là không thể mãi mãi dựa vào xuất cảng và đầu tư hạ tầng để tăng trưởng kinh tế. Xuất cảng chỉ có hạn vì nước ngoài – kẻ cả Hoa Kỳ - sẽ có ngày hết tiền mua hàng Tàu, nhất là trong hoàn cảnh thương chiến Mỹ-Trung và nhu cầu tạo công ăn việc làm cho giới lao động ở Tây Âu. Đầu tư hạ tầng phải chậm lại một khi đô thị, xa lộ, phi trường, xe lửa…đến mức dư thừa, trong khi nạn lão hóa giới hạn nhu cầu xây cất. Bắc Kinh đang đầu tư để cải tiến mạng lưới an sinh xã hội, chế độ hộ khẩu và lương bổng nhưng đây là một tiến trình rất gian nan. Thay đổi trọng tâm kinh tế từ tiết kiệm và đầu tư (tức là có lợi cho những tập đoàn lợi ích) sang tiêu thụ tư nhân (tức là có lợi cho đa số quần chúng) là một quyết định chính trị vô cùng gay go nếu không khéo lèo lái sẽ kéo theo thay đổi thể chế.

Hai sách lược còn lại của Bắc Kinh gồm (1) Vòng Đai Con Đường để đẩy thặng dư đầu tư ở Trung Quốc ra các nước đang mở mang (bù đắp cho khoảng thiếu hụt bán hàng sang các nước phát triễn), và (2) công nghệ xanh để vừa xuất cảng ra nước ngoài lại cải thiện môi trường trong nước.  

TÓM TẮT

  1. Mô hình tăng trưởng của Trung Quốc là: (1) hạn chế tiêu thụ trong nước (2) thu hút nguồn tiết kiệm với giá rẻ (3) hổ trợ địa phương vào doanh nghiệp đầu tư.
  2. Các địa phương bán quyền xử dụng đất đai, và ấn hành tín dụng để thúc đẩy đầu tư.
  3. Đầu tư thặng dư khi xuất cảng hàng hóa xuống trong khi tiêu thụ nội địa không tăng, thành ra nợ xấu vì xây cất tăng trong khi nhu cầu hạ tầng giảm.


[1] Dân Tàu có máu cờ bạc nên mua bán chứng khoán rất nhiều, nhưng thua lỗ trên sàn lại khiến giảm tiêu thụ. Cho nên thị trường chứng khoáng kém minh bạch cũng là một hình thức giảm tiêu thụ.

Saturday, September 11, 2021

Kinh Tế Dễ Hiểu: Trọng Cung hay Trọng Cầu (Chương 16)

Hai cụm từ trọng cung (supply-side) và trọng cầu (demand-side) thường dùng cho chính sách kinh tế trong nước Mỹ (đảng Cộng Hòa trọng cung, Dân Chủ trọng cầu) nhưng đồng thời cũng thể hiện hai mô hình phát triển của Hoa Kỳ (trọng cầu) và Trung Quốc (trọng cung). Bài viết này sẽ tìm hiểu cả hai trường hợp.

1.      Trọng Cung (đảng Cộng Hòa) và Trọng Cầu (đảng Dân Chủ) trong nước Mỹ

Trọng cung là chủ trương kinh tế của đảng Cộng Hoà từ thời Tổng Thống Ronald Reagan nhằm cắt giảm thuế má để khuyến khích người có tiền tăng gia đầu tư sản xuất. Mức cung tăng (sản xuất tăng) vừa hạ thấp giá cả hàng hóa và dịch vụ lại tạo thêm công ăn việc làm mới. Nhờ vậy mức cầu theo đó cũng tăng giúp cho kinh tế phát triển để mang lại lợi ích cho mọi thành phần trong xã hội. Giảm thuế lại thêm đồng nghĩa với hạn chế vai trò của nhà nước, tức là thu nhỏ khu vực công mà phát huy khu vực tư[1].

Phe chống đối cho rằng đây là chính sách kinh tế nhỏ giọt (trickle-down economics) giảm thuế để nhà giàu hưởng trước, phần còn lại dư thừa rơi rớt ban ơn mưa mốc xuống đến dân nghèo. Từ thập niên 1980 các doanh nghiệp lớn đưọc giảm thuế nên đầu tư máy móc hữu hiệu hóa dây chuyền sản xuất, xây cất hảng xưởng bên Tàu, Việt Nam trong khi sa thải công nhân ở Mỹ, sau đó lại dùng tiền mua quyền lực hay tìm ngõ ngách chạy trốn vào các thiên đường thuế vụ nên phần rơi rớt chẳng còn lại bao nhiêu cho dân nghèo húp cháo. Chính sách trọng cung bị lên án làm hạn chế sức tiêu thụ trong dân chúng nhằm trợ cấp nhà giàu (theo kiểu tá điền ngày xưa phải bớt ăn để nộp địa tô cho điền chủ) nên là nguyên nhân khiến hố sâu giàu nghèo tăng vọt ở Hoa Kỳ kể từ thập niên 1980.

Trọng cầu là chủ trương kinh tế của đảng Dân Chủ. Quan điểm này bắt nguồn từ John M. Keynes khi ông cho rằng có nhu cầu mới dẫn đến sản xuất. Quần chúng cần tiêu thụ nhưng gặp lúc kinh tế khủng hoảng, nhu cầu từ khu vực tư nhân giảm (doanh nghiệp ế ẩm giảm đầu tư, công nhân mất việc giảm ăn xài) cho nên nhà nước phải kích cầu qua các khoảng trợ cấp thất nghiệp, đầu tư xây cất hạ tầng, v.v…Như vậy nhà nước tạo ra nhu cầu mới để bù đắp vào khoảng trống thiếu hụt của tư nhân. Nhờ có nhu cầu trở lại nên doanh nghiệp mới tin tưởng đầu tư để tạo thêm công ăn việc làm. Đợi đến lúc kinh tế phục hồi thì nhà nước mới giảm chi, khi đó nhờ tăng trưởng nên mức thuế thu vào tăng để bù đắp vào các khoảng thiếu hụt ngân sách do những gói kích cầu. Chính sách này gọi là countercyclical fiscal policy - tức chi tiêu nhà nước tăng giảm đi ngược lại với chu kỳ suy thoái hay tăng trưởng của nền kinh tế tư nhân.

Dùng thí dụ dễ hiểu nếu cổ xe kinh tế chết máy nhà nước phải mồi xăng (kích cầu) thúc cho máy nổ. Máy đã nổ thì nhà nước phải rụt tay ra cho xe chạy. Tuy nhiên bàn tay lông lá của nhà nước một khi đã thò mò táy máy chẳng bao giờ chịu rút về.

Xin để ý là chử “cầu” trong trọng cầu (demand-side) hàm ý tiêu thụ (consumption) và đầu tư (investment). Chử “cung” trong trọng cung (supply-side) gồm tăng đầu tư và sản xuất (supply).

Phe trọng cầu bị lên án “tax and spend” tức nhà nước sưu cao thuế nặng để ăn xài phung phí[2]. Lý do vì nhà nước mập mờ đánh lận con đen giữa chi tiêu (spending) và đầu tư (investment): tiền welfare khiến quần chúng ỷ lại vào của tế bần nhà nước hay là đầu tư cho tương lai[3]? Chú phỉnh tôi rồi chính phủ ơi!

Từ John M. Keynes cho đến nay khuynh hướng trọng cầu không còn giới hạn vào chi tiêu nhà nước phải đi ngược với chu kỳ tăng trưởng. Theo lý luận hiện thời trong xã hội có một khối người nghèo không đủ cơ hội học hành tiến thân, tức năng lực của số người này bị phí phạm vì họ trở thành gánh nặng kèm hãm nền kinh tế không phát triển trọn vẹn (người kém học vấn hoặc thất nghiệp hay làm việc lương thấp khiến mức cung giảm, lại không đủ tiền tiêu xài khiến cầu giảm.) Vai trò của nhà nước là đánh thuế nhà giàu nhằm nâng đỡ nhà nghèo để tạo công bằng xã hội thì mọi người mới có cơ hội phát triển đồng đều giúp cho xã hội thăng tiến – lý luận hay và xạo hết chổ nói cổ võ cho xã hội chủ nghĩa kiểu Biden, Bernie Sander, Elizabeth Warren, Paul Krugman và Joseph Stiglitz, lý do trong xã hội lúc nào cũng có giàu nghèo cho đến khi nhà nước đánh thuế cho mọi người cùng nghèo bình đẳng như nhau.

2.      Trọng Cung (Trung Quốc) Trọng Cầu (Hoa Kỳ)

Kinh tế Trung Quốc chú trọng tiết kiệm (high-savings rate) để đầu tư (high-investment model) nhằm tăng gia sản xuất nên gọi là trọng cung. Hoa Kỳ đặt nặng vào tiêu thụ (consumption) nên phù hợp với trọng cầu. Vài số liệu tiêu biểu:

                  Hoa Kỳ                 Trung Quốc

Đầu tư (%GDP)                            21%                      44%

Tiết kiệm (%GDP)                        19%                      44%

Tiêu thụ tư nhân (%GDP)             69%                      38%

Dân Mỹ ăn xài gấp đôi dân Tàu cho nên tiết kiệm và đầu tư chỉ bằng phân nửa Trung Quốc. Tàu cung Mỹ cầu cho nên Mỹ mới thiếu nợ Tàu.

Do tiêu thụ chiếm 70% GDP ở Mỹ nên trong các thống kê thước đo về tâm lý của giới tiêu thụ (consumer sentiments) được xem là báo hiệu mức tăng trưởng của nền kinh tế, so ra còn quan trọng hơn cả số liệu sản xuất. Thí dụ nếu dân chúng lo thất nghiệp hay sợ không dám ra đường vì dịch cúm Tàu thì tâm lý của người tiêu dùng trở nên bi quan khiến dịch vụ mua bán chậm lại. Ngược lại lúc việc làm dễ kiếm và lương bổng tăng nhanh thì tâm lý của giới tiêu thụ sẽ lạc quan yêu đời tiêu xài mạnh tay.

Ngược lại tại Trung Quốc số liệu sản xuất chiếm vị trí quan trọng dự báo mức độ tăng trưởng. Cho dù đại gia Tàu (và Việt) nay ra ngoại quốc xài tiền bảnh hơn dân Mỹ nhưng nói chung đa số các gia đình Á Đông còn nhớ cảnh nghèo khó 20 năm trước nên vẫn cần kiệm nhiều hơn người da trắng. Dân Tàu (và Việt) lại để dành tiền giúp gia đình, lo bệnh hoạn, giáo dục con cái và chuẩn bị tuổi già vì mạng lưới xã hội không bằng Tây Phương. Mô hình phát triển ở Trung Quốc là ép buộc dân chúng tiết kiệm (financial repression) với lãi xuất thấp để góp vốn giá rẻ cho doanh nghiệp đầu tư. Tăng trưởng dựa vào đầu tư, lại thiếu minh bạch sinh ra lãng phí rồi dẫn đến khối nợ xấu khổng lồ. Nền kinh tế Trung Quốc (và Việt Nam) theo chính sách trọng cung nên nhỏ giọt (trickle-down economics) từ giới đại gia xuống đa số quần chúng làm tăng hố sâu giàu nghèo cho dù mang tiếng Cộng Sản. Dân tình bất mãn giúp Tập Cận Bình thừa cơ dùng chiêu bài “Thịnh Vượng Chung” (Common Prosperity) để tấn công nhằm bẻ gảy ảnh hưởng của các đại tập đoàn như Alibaba và Tencent[4].

Bức tranh trên chỉ mới sơ lược vì câu chuyện còn phức tạp hơn nhiều. Kinh Tế Dễ Hiểu xin dành loạt bài kế tiếp bàn về mô hình kinh tế Trung Quốc.

TÓM TẮT

1.      Trọng cung: cắt giảm thuế để khuyến khích tư nhân đầu tư tạo công ăn việc làm. Mức cung tăng khiến hàng hóa giá rẻ

2.      Trọng cầu: có nhu cầu mới dẫn đến sản xuất nên nhà nước phải thúc đẩy sức tiêu thụ trong nước

3.      Đảng Cộng Hoà trọng cung. Đảng Dân Chủ trọng cầu

4.      Trung Quốc trọng cung. Hoa Kỳ trọng cầu.



[1] Thực tế là các Tổng Thống Cộng Hoà vừa giảm thu (cắt thuế) lại tăng chi (Reagan tăng ngân sách quốc phòng, Bush con tăng Medicare và Trump kích cầu cúm Tàu) để không thất cử vì dân chúng phản đối. Cho nên dưới thời Cộng Hòa ngân sách thiếu hụt rất lớn (deficit). Riêng trường hợp của Bush cha (Cộng Hòa) thất cử vì tăng thuế và vi phạm lời hứa danh dự không tăng thuế (read my lips, no new tax.)

[2] TEA PARTY bị dịch sai nghĩa như Đảng Trà. Chử TEA lấy từ 3 mẫu tự đầu của Tax Enough Already, tức thuế nặng quá rồi chịu đời sao thấu!

[3] Hạ tầng (infrastructure) thường được hiểu như đường xá, cầu cống, Internet, phi trường, hải cảng v.v… Sang thời Biden tô vẽ hạ tầng mở rộng nay gồm cả tầng dưới con người (human infrastructure) như tiền mẫu giáo, tiền nuôi ông bà già. Cho nên Biden đòi chi tiêu 1000 tỷ USD cho tầng dưới (infrastructure) rồi thêm 3500 tỷ USD cho tầng háng (human infrastructure).

[4] Tập Cận Bình nếu thật tình muốn kiến tạo Thịnh Vượng Chung phải đạp phá các tập đoàn quyền lực trong chính nội bộ đảng Cộng Sản Trung Quốc thay vì chỉ nhắm vào các tập đoàn tư nhân.

Friday, September 3, 2021

Kinh Tế Dễ Hiểu: Tâm Lý Thị Trường (Chương 15)

 Có hai cách nhìn về thị trường. 

  1. Theo quan điểm thứ nhất mọi người sinh hoạt trong thị trường đều không quyết định cẩu thả lợi vì đụng chạm đến lợi ích riêng tư của mình (self-interest). Mỗi cá nhân có thể đúng hay sai nhưng đến khi tổng hợp các quyết định (dựa vào những dữ kiện đang có[1]) lúc nào cũng sáng suốt cho nên gọi là thị trường hợp lý (rational market.)
Thí dụ kỷ sư A muốn đòi lương cao trong khi B chấp nhận mức lương thấp hơn. Các công ty C, D, E lại trả lương chênh lệch. Tổng hợp nhiều quyết định sẽ đi đến một mức lương chung hợp lý nhất trong thị trường lao động dựa trên dữ kiện ngay vào lúc đó là có bao nhiêu người đang tìm việc và bao nhiêu hảng cần thuê mướn nhân viên.

Trong một thí dụ khác về giá chứng khoán. Nhóm A  đồng ý mua cổ phiếu giá thấp trong khi nhóm B đòi giá cao. Sàn chứng khoán tổng hợp ước đoán của mọi phe tham dự nên quyết định giá hiệu quả nhất giá trị chứng khoán vào thời điểm lúc bấy giờ (efficient market theory.)[2],[3]

Cách nhìn thứ nhất nghe hợp lý nhưng thực tế cho thấy giá cả không phải lúc nào cũng thỏa đáng mà trong nhiều trường hợp tăng vọt một cách phi lý để rồi sau đó xì thảm hại như bong bóng.

  1. Quan điểm thứ nhì (từ John M. Keynes) cho rằng nhóm A không muốn bị vuột hay hố nên khi đưa ra giá cả đã tiên liệu một nhóm khác sẽ trả giá cao hay thấp hơn. Nói cách khác, thị trường giống như sàn đấu thầu hay trên bàn xì phé nơi đó mỗi người dò chừng đối thủ sẽ đuổi theo giá bao nhiêu, để rồi một khi “nóng máu” giá cả sẽ bay bổng lên xuống một cách phi lý bất ngờ. Khi nhận xét về thị trường trường hợp lý Keynes phát biểu “Đơi đến khi thị trường hết điên rồ thì bạn đã cháy túi” (The stock market can remain irrational longer than you are solvent.)

Nếu thị trường hợp lý giá cả sẽ đạt đến mức cân bằng tối ưu (optimal pricing) phù hợp với các dữ kiện đang có. Nếu thị trường không hợp lý tất nhiên giá cả sẽ trồi sụt thất thường. Tuy vậy hai quan điểm nói trên không đối nghịch nhưng lại bổ túc lẫn nhau như hai bộ mặt của một đồng tiền. Nhà đầu tư nổi tiếng Peter Lynch nhận xét “Trong ngắn hạn giá cổ phiếu của một công ty không liên hệ gì đến sự thành bại của công ty đó, nhưng đến dài hạn giá cổ phiếu lại phản ảnh 100% thành quả của công ty.” (Often, there is no correlation between the success of a company’s operations and the success of its stock over a few months or even a few years. In the long term, there is a 100 percent correlation between the success of the company and the success of its stock.) Nói cách khác trong khoảng vài tháng hay vài năm giá cả trồi sụt theo tâm lý thị trường nên thường khi không hợp lý, nhưng nếu kiên nhẩn chờ đợi lâu dài thì giá cả phù hợp 100% với thành quả của công ty[4] [5].

Trở lại với kinh tế vĩ mô nếu thị trường hữu hiệu (và dữ kiện không thay đổi) thì giá cả sẽ đạt đến trạng thái tĩnh cân bằng tối ưu. Mọi người đều sẽ có công ăn việc làm với đồng lương hợp lý. Giá cả và mức cung cầu đều ổn định nên không giảm phát hay lạm phát. Mọi sự can thiệp của nhà nước sẽ chỉ bóp méo thị trường. Đến khi dữ kiện thay đổi, giá cả sẽ dao động trồi sụt nhưng nhà nước không vì vậy mà can thiệp nhưng cần kiên nhẫn chờ đợi cho đến khi thị trường gạn lọc các bất cập trước khi trở về trạng thái cân đối.

Ngược lại nếu thị trường không hợp lý giống như bãi đấu thầu thì giá cả sẽ có những giai đoạn hổn loạn. Nhà nước cần can thiệp để ngăn chận hay giảm thiểu tác động của khủng hoảng nhằm tránh lạm phát và thất nghiệp vốn là hai nguyên nhân dẫn đến xáo trộn chính trị và xã hội.

***

Ngành kinh tế hành vi (behavioral economics) trở nên thịnh hành kể từ sau cuộc khủng hoảng 2007-08 để trả lời câu hỏi tại sao các đại ngân hàng Mỹ vốn xử dụng những chuyên viên ưu tú nhất từ Harvard, Columbia,…lại điên rồ đua nhau bơm lên bong bóng điạ ốc và tài chánh khổng lồ để rồi khi nổ bùng làm thiệt hại đến quyền lợi của chính họ?

Nguyên do thứ nhất là do tâm lý hùa theo đám đông (herd mentalitỵ.) Tâm lý này rất tự nhiên vì bắt nguồn từ bản năng sinh tồn khi sống thành đàn mà thấy mọi người ùa nhau chạy thì phải…chạy theo không cần chờ biết do cháy rừng, sư tử hay thảo khấu[6]. Nhưng cũng chính bản năng này khi áp dụng vào thị trường lại vô cùng tai hại nếu một người hùa theo đám đông mua nhà hay chứng khoán vào lúc giá cao ngất ngưỡng để rồi bán tháo đổ lúc giá xuống thảm hại cùng với đám đông ôm đầu máu bỏ chạy.

Nhà đầu tư lừng danh Warren Buffet dạy ngược lại “Hãy hoảng sợ khi mọi người tham lam, hãy tham lam khi mọi người hốt hoảng” (Fearful when others are greedy and greedy when others are fearful) tức là mua khi giá cả tuột dốc, và bán khi giá cả tăng vọt. Cách đầu tư lề trái gọi là contrarian investing.

Nhiều trạng thái tâm lý khác khiến chết người như lòng tham (greed), tánh ghanh ghét (envious) hay sợ lỡ chuyến đò (missing the boat)!

Có những người dù biết dại dột mới nhảy vào một khi giá đã tăng lên quá cao, vậy mà vẫn mua vì họ tin sẽ bán được cho thằng khác khờ hơn - tức là Last Fool Theory. Khôn ngoan tính toán kiểu này dễ chết vì biết đâu chính mình mới là tên khờ cuối cùng!

Chu kỳ giá cả tăng hay giảm đôi khi kéo dài nhiều năm khiến nhiều người đâm ra mất kiên nhẫn và tự tin. Thí dụ từ năm 2004 ở Mỹ đã nhận xét giá nhà đã tăng quá cao. Nhưng sau đó từ 2004-2007 giá cả cứ tiếp tục nhảy vọt khiến những người vốn chậm chạp và thận trọng nhất cũng đâm ra sốt ruột để rồi nhảy vào mua lúc đỉnh điểm!

Khôn cũng chết, dại cũng chết, chỉ có biết là sống. Ông Buffet đã cho biết mà không ai chịu nghe (kể cả người viết!)

***

Một ngành học khác là Complexity Economics (Kinh Tế Phức Tạp.) Kinh tế không có trạng thái tĩnh vì không phải là hệ thống đóng (closed system) mà là hệ thống mở (open system.) Hệ thống mở chịu nhiều tác động bên ngoài như đại dịch Vũ Hán, biến đổi khí hậu, chiến tranh, các phát minh mới, kết quả bầu cử v.v…đều tác động lên nền kinh tế.

Nói về các phát minh có một khái niệm rất quan trọng gọi là “creative destruction” (sáng tạo trong hũy diệt) của kinh tế gia Schumpeter. Thí dụ toàn cầu hoá khiến hàng hoá giá rẻ vì chuổi cung ứng vô cùng hiệu quả nhưng lại hũy diệt hàng triệu công ăn việc làm ở Tây Phương. Mua bán trên Amazon vô cùng tiện lợi nhưng hũy diệt hàng chục ngàn cửa tiệm phá sản. Uber khiến các hãng taxi chết dỡ.

Quyền lực phe nhóm một khi đã bén rể lúc nào cũng sợ bị hũy diệt nên vì đó mà bóp chết sáng tạo và tiến bộ. Ngược lại nhà nước phải nâng đỡ thành phần bị thiệt thòi khi những phát minh mới hũy diệt công ăn việc làm để họ không bị bỏ rơi (left behind) mà sinh ra bạo loạn xã hội và chính trị.

TÓM TẮT

  1. Thị trường hữu hiệu vì tổng hợp mọi quyết định trong xã hội để đạt đến mức giá chung phù hợp nhất với các dữ kiện đang có (efficient market theory.) Ngược lại nếu giá cả do nhà nước đơn phương quyết định sẽ sai lệch.
  2. Giá cả trong thị trường, giống như bãi đấu thầu, không phải lúc nào cũng hợp lý do mỗi người dự đoán giá sẽ còn tăng hay giảm.
  3. Tâm lý hùa theo đám đông và tên khờ cuối cùng (Last Fool Theory) rất tai hại trong Kinh Tế Hành Vi (Behavioral Economics)
  4. Kinh Tế Phức Tạp (Complexity Economics) tìm hiểu những tác động từ bên ngoài như đại dịch, chiến tranh, phát minh…lên nền kinh tế.


[1] Thị trường sáng suốt “dựa trên các dữ kiện đang có”. Còn nếu tin tức không chính xác thì quyết định chung sẽ sai lệch. Hay khi hoàn cảnh thay đổi quyết định chung cũng phải đổi thay.

 

[2] Một thí nghiệm vui và dễ thực tập trong các buổi tiệc là đưa ra một hủ đựng kẹo bòn bon để mọi người tham gia đoán có bao nhiêu kẹo trong hủ. Mỗi người đoán mò một con số nhưng tổng hợp mọi ước đoán sẽ chính xác một cách bất ngờ. Càng nhiều người tham dự cuộc chơi thì kết quả tổng hợp sẽ càng gần với con số thật!

 

[3] Một hệ lụy là kinh tế thị trường (thị trường quyết định giá cả) hữu hiệu hơn kinh tế chỉ huy (nhà nước quyết định giá cả.)

[4] Có 2 cách đầu tư mua chứng khoán: (1) đầu tư chạy theo đà (momentum investing) tức mua khi giá đang trên đà đi lên và bán theo đà đi xuống mà không cần biết công ty tốt hay xấu; hoặc (2) đầu tư trên cơ sở (fundamental investing) tức gạn lọc các công ty có nền tảng tốt để mua cổ phiếu.

 

[5] Để ý câu nói của Peter Lynch rất phù hợp với John M. Keynes

 

[6] Quan sát nai hay chim lúc nào cũng đi theo đàn.