Sunday, November 27, 2016

Cách mạng trên smartphone, Facebook, Youtube, Twitter

Donald Trump thắng cử một phần không ít nhờ vào Twitter.

Phong trào dân túy (populism) tại Hoa Kỳ phát triển nhanh khi tin tức trên Facebook lan tràn nhanh chóng hơn những luồng thông tin truyền thống như New York Times, CNN, USA Today, v.v…

Ngược lại, hai ông Tập Cận Bình và Putin một mặt kiểm soát các mạng xã hội, đồng thời sử dụng hệ thống tuyên truyền quy mô để khích động dân tộc chủ nghĩa, cuối cùng lại khai thác chính các mạng xã hội nhằm cô lập phong trào dân chủ trong nước và loan truyền tin tức sai lệch ra nước ngoài.

Youtube khởi động phong trào Cách mạng Hoa nhài với khúc phim người tự thiêu ở Tunisia. Facebook đóng vai trò quan trọng khi huy động quần chúng tham gia cuộc cách mạng tại Ai Cập. Nhưng hiện chính ISIS - chớ không phải phong trào dân chủ - lại thắng trên mặt trận tuyên truyền trong thế giới Hồi giáo qua Facebook và Youtube.

Phong trào Maidan dùng smartphone để liên lạc và lật đổ nhà nước thân Nga tại Ukraine năm 2014. Nhưng tại Thổ Nhĩ Kỳ năm 2016 cánh thân nhà độc tài Erdogan dùng smartphone để huy động quần chúng dập tắt cuộc cách mạng của quân đội.

Chưa đầy 10 năm nhưng sự xuất hiện của điện thoại thông minh, Facebook, Youtube và Twitter đã có tầm ảnh đến mức quyết định lên lịch sử nhân loại. Thông tin khó bị bưng bít vì các mạng xã hội đến trực tiếp với quần chúng. Nhưng hiện tượng tâm lý cho thấy khi thông tin tràn ngập thì người nghe chỉ gạn lọc những gì mà mình muốn nghe. Thí dụ dễ hiểu là những ai trong nước ghét Việt kiều chỉ trao đổi cho nhau tin tức ở bên Mỹ bị hắt hủi nên thèm khát trở về quê hương; còn bên ngoài chống Cộng chỉ lan truyền những hình ảnh đàn áp, tham nhũng, bất công; tin tức và hình ảnh tràn ngập nhưng mỗi người vẫn tự gạn lọc thông tin phù hợp với quan điểm của họ.

Không ai biết rõ ở lớp tuổi nào các định kiến được thành hình từ trong gia đình, học đường hay xã hội. Một số có thể thay đổi quan điểm, nhưng đa số khăng khăng theo thành kiến; một thiểu số còn trở nên cực đoan hóa.

Tại các nước đang mở mang thì trừ Nga và Trung Quốc các mạng xã hội đang thắng tuyên truyền của nhà nước. Nhưng ở Âu-Mỹ cuộc chạy đua giữa thông tin trên mạng xã hội và những cơ quan truyền thông “trung thực”, “chiều sâu” của Tây phương xảy ra quyết liệt vì chưa ai dám kết luận liệu hai luồng thông tin này bổ sung hay lung lạc nền dân chủ. Riêng Tổng thống tân cử Donald Trump tiếp tục dùng Twitter để đến trực tiếp với phong trào dân túy (populist) mà không qua gạn lọc của giới tinh hoa (elite và politically correct) vốn kiểm soát truyền thông.

Điều đáng quan tâm khi Tây phương với các định chế, truyền thống dân chủ và dân trí cao nhưng vẫn chao đảo với mạng xã hội thì tại các nước đang phát triễn thách thức xây dựng nền dân chủ càng trở nên khó khăn. Quan điểm truyền thống là sự thật sẽ chiến thắng bưng bít và độc tài, nhưng các mạng xã hội tạo ra nhiều góc sự thật (multiple realities) khích động và cách ly nhiều thành phần trong xã hội.

Việt Nam hiện chưa thiết lập hệ thống tường lửa tinh vi và đội ngũ dư luận viên trình độ cao như ở Trung Quốc và Nga. Nhưng điều này không đồng nghĩa với nhà cầm quyền không đủ khả năng vì nếu muốn vẫn dễ dàng được Nga-Hoa trang bị công cụ và giảng dạy kinh nghiệm. Lý do có thể vì Việt Nam muốn hội nhập với Tây phương nên không dựng bức màn sắt thông tin; Đảng Cộng sản cũng không thể khích động tinh thần dân tộc như Putin và họ Tập vì quần chúng sẽ chống Tàu; tuy nhiên ngày nào đó nhà cầm quyền vẫn có thể chuyển hướng tùy theo cách phân tích thiệt hơn.



Sunday, November 13, 2016

Cuộc cách mạng tại Mỹ

Gần phân nửa dân chúng Mỹ vùng dậy nhưng không bằng búa liềm và mã tấu mà với lá phiếu để nói lên sự phẫn nộ và đòi hỏi quyền lợi cho họ.

Quyền lực tại Mỹ đang rúng động nhưng không xảy ra bạo loạn cướp chính quyền trái lại nhà nước vẫn được chuyển tiếp một cách trật tự. Bên thua cuộc không sợ bị thanh toán, còn bên thắng cuộc cũng không đấu tố để tiêu diệt đối phương cho dù các thế lực chính trị sẽ bị đảo lộn trong căng thẳng, tính toán và thủ đoạn.

Tìm hiểu lý do khiến gần phân nửa dân Mỹ phẫn nộ là trả lời cho câu hỏi tại sao bà Clinton mất đi lá phiếu của giới thợ thuyền Mỹ trắng cho dù Đảng Dân chủ vẫn thường được xem bảo vệ công nhân trong khi Cộng hòa thuộc phe tư bản. Nhiều người mỉa mai đảng nào rồi cũng bênh vực giới quyền lực nhưng không đơn giản như vậy.

Tổng thống Hoa Kỳ Franklin Roosevelt của Đảng Dân chủ phát động phong trào New Deal sau cuộc Đại Khủng Hoảng 1929 nhằm giải quyết nạn thất nghiệp, nâng vai trò của công đoàn, tổ chức mạng lưới an sinh xã hội và đưa ra mức lương tối thiểu. Từ đó Đảng Dân chủ thu hút được sự ủng hộ của giới thợ thuyền.

Đến thập niên 70 kinh tế bị trì trệ một phần vì doanh nghiệp bị giám sát rườm rà và vì giới công đoàn đòi hỏi quá nhiều quyền lợi. Tổng thống Ronald Reagan thuộc Đảng Cộng hòa cắt giảm việc giám sát và vai trò của công đoàn để doanh nghiệp được tự do phát triển.

Sang thập niên 90 sau khi bức màn sắt sụp đổ, Tổng thống Bill Clinton thuộc Đảng Dân chủ cùng Quốc hội Cộng hoà đẩy mạnh trào lưu toàn cầu hóa khi tham gia vào WTO và ký kết Hiệp Ước Thương Mại Bắc Mỹ NAFTA; tiếp đó Tổng thống Bush thuộc Đảng Cộng hòa ủng hộ đưa Trung Quốc vào WTO; Tổng thống Obama thuộc Đảng Dân chủ vận động cho TPP (Thái Bình Dương) và TTIP (Đại Tây Dương). Hai đảng Dân chủ và Cộng hòa trở nên giống nhau vì cùng thúc đẩy mậu dịch trong khi để vai trò của các công đoàn ngày càng suy yếu.

Kết quả kinh tế thế giới và Hoa Kỳ tăng vọt nhưng giới thợ thuyền Mỹ trắng ở những tiểu bang vùng Trung Mỹ thất nghiệp hàng loạt do các tập đoàn đa quốc gia mang sản xuất ra nước ngoài. Trung Quốc hưởng lợi nhiều nhất nhờ vào (1) lực lượng nhân công cần cù, hùng hậu, lương rẻ; (2) thu hút đầu tư nước ngoài; (3) hạ giá đồng nhân dân tệ để hỗ trợ xuất cảng. Nước Mỹ rạn nứt thành hai mảnh, các tiểu bang ven bờ đại dương như CaliforniaNew York ngày thêm giàu có trong lúc dân chúng vùng Trung Mỹ bị thất nghiệp hàng loạt (nay gọi là rust belt, tức vòng đai rỉ sét). Cho nên dân miền duyên hải có lợi tức và học vấn cao và gồm nhiều di dân ủng hộ toàn cầu hóa còn người bản xứ sống trong đất liền chống các hiệp ước thương mại quốc tế.

Mặt khác, Đảng Dân chủ thay đổi từ bênh vực quyền lợi công nhân thời New Deal sang đa bản sắc (multi-identity) và đa văn hóa (multi-culturalism) như nữ quyền, đồng tính và các sắc tộc thiểu số trong thế kỷ 21. Dân Mỹ trắng gồm cả hai giới trung lưu và thợ thuyền cảm thấy quyền lợi của họ bị di dân lấn chiếm (Welfare và ObamaCare), nền tảng Cơ Đốc Giáo (Christian Judaism) bị lung lạc trong khi người bản xứ bị lấn át trên chính quê hương cha ông họ đã dựng nên.

Kể từ năm 2003 dân Mỹ lại thêm tức giận vì can thiệp quân sự ra nước ngoài vô cùng tốn kém mà không đạt được kết quả nào; nhà nước bị tê liệt do hai đảng chính trị tranh giành thế lực nên phủ quyết lẫn nhau (vetocracy) thay vì điều hành đất nước; các biện pháp kinh tế sau cuộc khủng hoảng 2007-08 bảo vệ giới tài phiệt nhiều hơn là dân chúng; di dân bất hợp pháp từ Nam Mỹ mang theo tội phạm, còn di dân Hồi Giáo là mảnh đất dung dưỡng cực đoan và khủng bố; chính sách ngoại giao mềm yếu của Obama bị Putin (Nga), Erdogan (Thổ), Duterte (Phi) khinh thường mà ngay cả các nhà cầm quyền như Trung Hoa và Việt Nam cũng không cần nghênh đón trọng thể khi công du sang nước họ. 

Nhiều nỗi tức giận bị dồn nén thể hiện qua lá phiếu phẫn nộ chống giới tinh hoa chính trị (elites) thuộc cả hai phía cho dù Đảng Dân chủ đang nắm quyền nên thiệt thòi nhiều nhất, thua cả Hành pháp lẫn Quốc hội vì vừa mất lá phiếu thợ thuyền lại không được sự ủng hộ nồng nhiệt của các thành phần còn lại.

Xã hội khi thay đổi đều có kẻ thắng người thua, nhưng trong nền dân chủ kẻ bị thua thiệt vẫn có sức mạnh qua lá phiếu. Điều trớ trêu khi nhà tỷ phú Donald Trump đắc cử không nhờ vào giới quyền lực tinh hoa hay của các tập đoàn tư bản và lợi ích mà bằng lá phiếu phẫn nộ của phân nửa dân Mỹ. Cả hai đảng đều rơi vào cơn khủng hoảng nên hiện đang cố moi tim óc tìm chỗ đứng vững trong quần chúng: có người đòi Đảng Cộng hòa phải trở thành đảng của quần chúng (populist party) tiếp theo thắng lợi của ông Trump; còn ông Bernie Sander kêu gọi các dân biểu nghị sĩ Dân Chủ phải bước ra khỏi vòng đai quyền lực Washington DC để trở về nghe tiếng nói của dân chúng ở từng địa phương.

Nước Mỹ đang bị khủng hoảng nhưng lại cho chúng ta thấy sức sinh động của nền dân chủ: dân chúng như nước nâng con thuyền chính trị nhưng cũng làm lật đổ con thuyền đảng phái, nên các đảng chính trị phải thay đổi thích ứng khi thì hỗ trợ doanh nghiệp, lúc lại trở về quần chúng.

Tất nhiên có những trào lưu không thể cưỡng lại được vì đi phản lại động lực tiến hoá: toàn cầu hóa; tự động hóa; đa chủng tộc và đa văn hoá trong tình trạng lão hóa của người da trắng nói chung; trọng tâm kinh tế chuyển từ Tây sang Đông. Đây là một cơn đại hồng thủy (tetonic shift) mà người ta đang dần thấy các hậu quả như sự nổi dậy của Trung Quốc, khủng hoảng kinh tế 2007-08, Brexit và phong trào dân túy ở Tây Phương; lá phiếu phẫn nộ của cử tri Mỹ 2016.

Nền dân chủ Hoa Kỳ trải qua một cơn chấn động nhưng chúng ta phải lạc quan vì giới tinh hoa đã bừng tỉnh và tìm cách thích ứng, bởi vì nếu họ không thay đổi thì sẽ bị cuốn theo dòng thác lủ từ không bạo động sang bạo động như đã từng xảy ra trong thập niên 1930.

Đại đa số dân Mỹ không chống toàn cầu hóa nhưng họ muốn chậm bớt cường độ nhanh đến chóng mặt; họ tiếp đón di dân nhưng đừng quá ồ ạt, không lạm dụng an sinh xã hội, không mang theo tội phạm và khủng bố; dân Mỹ chấp nhận các giá trị trong xã hội phải thay đổi nhưng không muốn thấy nền tảng đạo đức bị lung lay.

Mọi thay đổi đều có kẻ đắc lợi và người thua thiệt. Riêng trong thể chế dân chủ các đảng phái chính trị phải quan tâm đến thành phần dù không có quyền lực chính trị nhưng vẫn có lá phiếu bầu nhằm tìm cách giảm thiểu sự thiệt hại của họ.


Monday, October 3, 2016

Cách Mạng Dân Chủ: thành công và thất bại - Phần 4

Phần 3 của loạt bài này đã tóm tắt về tiến trình dân chủ ở nhiều quốc gia trong vòng 20 năm gần đây. Phần 4 sẽ so sánh xem mô hình nào trong số đó có thể xảy đến tại Việt Nam kèm theo những thuận lợi và khó khăn như thế nào.

Giả định một trong hai biến cố có thể phát sinh: tiến trình chuyển đổi ôn hòa và trật tự tương tự Miến Điến 2010, hoặc quần chúng nổi dậy lật đổ nhà cầm quyền như ở Ai Cập 2011 và Ukraine 2004.

Hiện không có dấu hiệu nào cho thấy tiến trình dân chủ hoá sẽ tuần tự diễn tiến tại Việt Nam lý do vì thành phần lãnh đạo trong đảng cầm quyền không chấp nhận đổi mới chính trị, khác với Tổng thống Then Sein trước đây ở Miến Điện. Về phần phong trào tranh đấu cũng chưa hội tụ được một khuông mặt đại diện có tầm vóc như bà Aung San Suu Kyi. Một khác biệt quan trọng nửa là giới quân phiệt Miến Điện muốn thoát ra khỏi lệ thuộc Bắc Kinh điển hình với quyết định đơn phương đình chỉ dự án xây đập thủy điện Myitsone do Trung Quốc đề xướng vào năm 2011; trong khi đó tại Việt Nam đảng cầm quyền không hề có ý định thoát Trung trái lại còn trông nhờ vào Bắc Kinh để duy trì độc quyền chính trị và lợi ích kinh tế.

Trường hợp thứ nhì xảy ra khi quần chúng nổi dậy lật đổ nhà cầm quyền như tại Ai Cập 2011 hay Ukraine 2004. Không ai biết được điều này có sẽ xảy đến hay không hoặc vào lúc nào, nhưng dấu hiệu cho thấy ý thức cùng nổi bất mãn trong quần chúng ngày càng tăng nên có thể trở thành mồi lửa châm thùng thuốc nổ vào một thời điểm bất ngờ. Cho nên bài viết này chỉ nhằm tìm hiểu kinh nghiệm quá khứ chớ không phải tiên đoán cho tương lai.
Cả hai cuộc cách mạng ở Ai Cập 2011 và Ukraine 2004 đều không thành công. Riêng Ai Cập mang đậm nét văn hóa Hồi Giáo đặc thù nên người viết thiết nghĩ Ukraine là trường hợp gần giống nhất so với Việt Nam.

Việt Nam hiện giờ và Ukraine trước đây đều là hai quốc gia cộng sản. Phong trào quần chúng và xã hội dân sự chỉ manh nha nên đất nước chưa xây dựng được truyền thống và cơ chế sinh hoạt chính trị đối lập. Cả hai xứ lại nằm bên cạnh các láng giềng xấu vốn áp đảo về kinh tế – chính trị – quân sự kèm theo tham vọng bành trướng. Hơn thế các nhà cầm quyền Nga-Trung đều quyết tâm ngăn cản không cho thành hình một đất nước dân chủ giàu mạnh ngay sát biên giới họ. Ukraine còn có lợi thế phía Tây gần với các cường quốc Âu Châu so với Việt Nam bị cô lập từ bờ biển phía Đông sang biên giới phương Tây và Bắc.

Thử mường tượng một cuộc nổi dậy quần chúng làm thay đổi nhà cầm quyền cộng sản. Lực lượng tranh đấu không có truyền thống sinh hoạt đảng phái nên chia rẽ và thiếu khả năng lèo lái xã hội vốn đang bị phân hoá trầm trọng. Chính quyền dân cử lại phải thừa hưởng nền hành chánh, an ninh và quân đội thối nát vốn bị dân chúng căm ghét. Dư luận đòi hỏi phải có giải pháp tức thời đền bù cho những nổi uất hận tràn dâng như đất đai bị chiếm đoạt, môi trường bị hủy hoại cũng như vấn đề tù cải tạo, đánh tư sản năm 1975 và chiến dịch cải cách ruộng đất vào thập niên 50. Facebook từng là công cụ hữu hiệu nhằm vận động quần chúng chống nhà nước toàn trị nhưng cũng dễ trở thành kênh thông tin kích động luồng dư luận quá khích và cục bộ. Trung Quốc sẽ dùng mọi thủ đoạn để phá hoại nền kinh tế kể cả các biện pháp quân sự uy hiếp vùng biên giới hay chiếm đóng biển đảo. Mỹ-Nhật-Úc không hiện diện trực tiếp tại Việt Nam, họ chỉ can thiệp đủ để đất nước không rơi vào tay Hoa Lục và khiến Bắc Kinh sa lầy trong các mưu toan chính trị, còn việc đặt nền móng dân chủ phải hoàn toàn tùy thuộc nơi người Việt.

Diễn tiến nếu xảy ra như vậy rất giống như cuộc Cách mạng Cam ở Ukraine 2004: lực lượng dân chủ thiếu đoàn kết tạo điều kiện cho các đại gia (oligarch) và tham nhũng hoành hành, tâm lý chia cách giữa hai miền Đông thân Nga và Tây thân Âu Châu ngày thêm sâu sắc. Nhà nước do dân bầu đánh mất niềm tin, cánh thân Mạc Tư Khoa thắng cử nhưng sau đó Tổng thống Yanukovich bị truất phế vào năm 2014. Chính trị không ổn định, kinh tế phụ thuộc vào Nga tạo cơ hội cho Tổng thống Putin chiếm mất bán đảo Crimea và chia cắt một phần đất nước. Tây phương chỉ giúp đỡ giới hạn như Phó Tổng thống Hoa Kỳ Joe Biden đã nói thẳng thừng vào tháng 12/2015 rằng trách nhiệm tùy thuộc nước Ukraine đừng để đánh mất cơ hội cuối cùng này: “You got one last chance. Don’t screw it up”.


Cách mạng vẫn sẽ xảy đến khi nào quần chúng quyết định giọt nước tràn ly và đứng lên đòi thay đổi, nhưng tiến trình dân chủ có thành công hay không do khả năng lèo lái đất nước của thành phần tranh đấu. Nhiệm vụ của những nhà dân chủ, đoàn thể chính trị và xã hội dân sự là tìm học kinh nghiệm quá khứ để sửa soạn hành trang cho tương lai dù không biết được bao giờ là lúc khởi hành mà cũng không thể có phép mầu nào cho mọi vấn nạn do nhà cầm quyền toàn trị gây nên trong suốt 70 năm; trau dồi lòng khiêm tốn nhân nhượng để đoàn kết mà không đánh lỡ mất cơ hội lịch sử thêm một lần nửa.

Saturday, October 1, 2016

Cách Mạng Dân Chủ: thành công và thất bại - Phần 3

Trong phần 3 của loạt bài này người viết xin tóm tắt về những diễn biến dân chủ tại các quốc gia trong vòng 20 năm nay với những kết quả thành công hay thất bại vô cùng khác biệt. Xin lưu ý rằng bài viết chỉ nêu lên vài gợi ý chớ không phải là công việc nghiên cứu sâu rộng và đầy đủ nên không khỏi thiếu sót, mục tiêu chỉ nhằm đưa ra một số nhận xét tổng quát và chủ quan mà tránh không bị che phủ bởi quá nhiều chi tiết dày đặc.

Cuộc khủng hoảng tài chánh tại Á Châu năm 1997 đã thúc đẩy những bước tiến dân chủ tại Nam Hàn và Đài Loan vốn đã bắt đầu từ thập niên 70-80. Quân đội và đảng cầm quyền lâu đời ở hai nước này bị đánh bại qua lần Tổng tuyển cử. Tiến trình dân chủ đã thành tựu, nền dân chủ trở nên vững chắc và sinh động trong hai quốc gia nói trên.

Cuộc khủng hoảng Á Châu năm 1997 cũng đã khiến hai nhà độc tài Suharto và Marcos tại Nam Dương và Phi Luật Tân bị lật đổ. Khủng hoảng sau đó lan sang Nam Mỹ và góp phần để hai nền quân phiệt ở Brazil và Argentina bị thay thế bởi chính quyền dân sự. Tuy vậy, các nền dân chủ những nơi đây vẫn còn mong manh, và hiện thời khung cảnh chính trị tại Phi, Brazil và Argentina đang trải qua rất nhiều sóng gió mang theo các thể hiện phản dân chủ.

Cách mạng Cam năm 2004-05 xóa bỏ kết quả cuộc bầu cử gian lận tại Ukraine. Nhưng rồi các đoàn thể đấu tranh chia rẽ tạo cơ hội cho đám tài phiệt và các tập đoàn lợi ích thao túng dẫn đến bất ổn chính trị. Tham nhũng tràn lan, tình trạng chia rẽ giữa hai miền Đông (thân Nga) và Tây (thân Tây phương) không được giải quyết. Cách mạng Maidan sau đó lật đổ Tổng thống Yanukovich thuộc cánh theo phe Mạc Tư Khoa, nhưng sau đó Ukraine bị Nga chiếm mất bán đảo Crimea và tách ly thành hai khu vực Đông-Tây từ năm 2014 cho đến ngày nay.

Quá trình chuyển đổi từ nhà cầm quyền quân phiệt sang dân sự tại Miến Điện từ năm 2011 được tán thưởng như mẫu mực cho phong trào cách mạng ôn hòa, tuy nhiên nền dân chủ non trẻ tại Miến vẫn còn rất mong manh.

Cách mạng hoa Nhài tại Trung Đông từ năm 2010 đến nay đem lại bức tranh vô cùng u ám: nền chính trị tại Tunesia, Ai Cập vô cùng bấp bênh còn Syrie và Lybia là hai tấm thảm kịch nhân loại.

Từ những diễn biến nói trên người viết xin đưa ra vài gợi ý dưới đây:

1. Khủng hoảng kinh tế trầm trọng là một trong các chất xúc tác cho cách mạng.

2. Nhưng cách mạng xảy ra không hẳn sẽ dẫn đến dân chủ; bầu cử tự do cũng không bảo đảm sẽ có dân chủ.

3. Nam Hàn và Đài Loan đã vượt ngưỡng cửa của những nước có lợi tức trung bình nên ý thức quần chúng cùng các cơ chế kinh tế và luật pháp đã đưa tiến trình dân chủ đến thành công.

4. Cách mạng phải cải thiện đời sống dân chúng. Hai chính quyền dân sự tại Brazil và Argentina quản lý kinh tế tồi tệ, ở Phi Luật Tân băng đảng ma túy hoành hành là những nguyên nhân khiến các nhà cầm quyền dân sự mất dần tính chính đáng.

5. Các thế lực phản dân chủ (ngoại quốc, quân đội, tài phiệt, khối lợi ích, vây cánh của nhà nước độc tài) lúc nào cũng rình rập để phá hỏng tiến trình dân chủ.

6. Trước muôn vàn khó khăn nhưng nội bộ các đoàn thể tranh đấu chia rẽ dù là vì tôn giáo, sắc tộc, vùng miền hay do bất đồng chính kiến thì cách mạng sẽ thất bại.

Saturday, September 24, 2016

Cách Mạng Dân Chủ: thành công và thất bại – Phần 2

Trong phần 1 của loạt bài này người viết đúc kết ý kiến của hai nhà nghiên cứu Juan J. Linz và Alfred Stepan [1] về năm điều kiện cần thiết và hỗ tương để một nền dân chủ vừa mới hình thành được củng cố:

1. Môi trường thuận tiện cho sự phát triển của xã hội dân sự
2. Môi trường lành mạnh cho các sinh hoạt chính trị
3. Luật pháp được tôn trọng
4. Nền hành chánh hiệu quả
5. Kinh tế phát triển

Kỳ này người viết đúc kết bài viết của Abraham F. Lowenthal và Sergio Bitar [2]. Hai nhà nghiên cứu nói trên đã phỏng vấn nhiều vị lảnh đạo quốc gia và lãnh tụ cách mạng ở Ba Tây, Mễ Tây Cơ, Nam Dương, Phi Luật Tân, Ba Lan, Nam Phi, v.v.., nhằm rút tỉa kinh nghiệm từ tiến trình dân chủ tại những nước này. Nhiều bài học tuy còn quá sớm để áp dụng tại Việt Nam nhưng là hành trang cho các nhà dân chủ.

Kinh nghiệm đầu tiên là những cá nhân và đoàn thể tranh đấu cần phải khắc phục các bất đồng về mục tiêu, lãnh đạo, chiến lược và chiến thuật. Mâu thuẫn trong phe dân chủ có thể do nhà cầm quyền khích động nhưng cũng có thể bắt nguồn từ tâm lý cá nhân hay bè phái, nhất là trong hoàn cảnh xã hội dân sự bị đàn áp liên tục nên không xây dựng được truyền thống sinh hoạt chung. Một khi mầm mống chia rẽ trở nên sâu sắc thì triển vọng dân chủ trở nên mờ nhạt cho dù một cuộc cách mạng có xảy ra và nền độc tài bị lật đổ đi chăng nữa. Thí dụ điển hình như tại Ukraine, khi cuộc Cách mạng Cam năm 2004-05 đã xoá bỏ được kết quả bầu cử gian lận nhưng sau đó các phe nhóm đối lập lại tranh giành với nhau tạo cơ hội cho những tập đoàn thế lực thao túng và lũng đoạn xã hội. Từ đó khung cảnh chính trị bất ổn tại Ukraine kéo dài cho đến lúc bị Nga xâm lăng một thập niên sau.
Nhưng đoàn kết vẫn chưa đủ, lực lượng tranh đấu cần khai thác mâu thuẫn trong nội bộ giới cầm quyền và bắc nhịp cầu với những người từng tham gia nhà nước độc tài nhưng nay sẵn sàng ủng hộ phong trào dân chủ. Để đạt được mục tiêu này các nhà tranh đấu phải có thái độ cởi mở khoan dung thay vì hẹp hòi cổ võ cho lòng thù hận. Nếu được, những người thay đổi quan điểm cần được bảo đảm rằng sau này họ sẽ không bị trả thù và tịch thu tài sản. Phong trào dân chủ phải tự cách ly ra khỏi bạo lực và cực đoan. Riêng thành phần cấp tiến trong giới cầm quyền vẫn nên tiếp tục cũng cố thế lực và ảnh hưởng nội bộ cho dù đang liên lạc với lực lượng đấu tranh, vì thế các buổi gặp gỡ ban đầu có thể được tổ chức trong vòng kín đáo.

Qua quá trình thương thuyết thì phong trào dân chủ phải đòi hỏi nhượng bộ liên tục từ phía cầm quyền cho dù kết quả có nhỏ nhoi hay chậm chạp đi chăng nữa. Ngược lại lực lượng tranh đấu phải hoà hoãn trên vài khía cạnh, dù việc này khiến những người ủng hộ tức giận hay trở nên bất mãn. Thái độ nóng nảy và cực đoan không có chổ đứng trong tiến trình dân chủ.
Một khi nhà cầm quyền toàn trị bị lật đổ, nhiệm vụ cấp bách nhất là phải đặt bộ máy công quyền vào khuôn khổ luật pháp, tái lập an ninh và ngăn cản bạo loạn. Phong trào dân chủ cần cưỡng lại ý muốn xóa bỏ mọi vết tích của chế độ độc tài cho dù điều này rất hợp tình tại các nước hậu cộng sản khi mà nền hành chánh và an ninh là công cụ của đảng nên bị dân chúng khinh miệt và thù ghét. Công an cảnh sát phải được chấn chỉnh trong tinh thần phục vụ xã hội và bảo vệ trật tự chớ không nhằm sách nhiễu hay đe dọa quần chúng. Quân đội cần phải tách rời ra khỏi ngành an ninh và đặt dưới sự lãnh đạo của chính quyền dân sự. Các cấp chỉ huy có dính líu với khủng bố và tra tấn phải bị loại trừ. Sĩ quan trong quân đội không được quyền tham gia sinh hoạt chính trị. Bài học tại Miến Điện, Thái Lan và Ai Cập đều cho thấy nếu quân đội nắm giữ địa vị “siêu quyền lực” thì tiến trình dân chủ hoá sẽ gặp rất nhiều trở ngại.

Việc soạn thảo bản tân Hiến pháp là một quá trình lâu dài cần có sự đóng góp của mọi thành phần xã hội nên tạm thời tránh đưa ra các mục tiêu quá cao vọng nhưng lại kéo dài thời gian tranh luận. Nội dung bản Hiến pháp tuy quan trọng nhưng thời điểm, phương thức và sự tham gia của quần chúng khi soạn thảo Hiến pháp có tầm ảnh hưởng không kém. Các điều khoản về tu chính không nên quá khắt khe hay quá dễ dãi. Cần có sự tham gia của thành phần cấp tiến trong giới cầm quyền cũ để các nhân sự còn lại của chế độ độc tài tin rằng họ sẽ không bị trả thù mà sẽ được xét xử trong khuôn khổ pháp luật.

Các chính quyền dân chủ tân lập thường bị phê phán do kinh tế suy thoái hay vì không thực hiện các lời hứa hẹn về dân chủ, một mặt do quần chúng kỳ vọng quá nhiều trong khi nhà nước phải thừa hưởng một guồng máy hành chánh và an ninh đã băng hoại. Nhiều người trước đây sát cánh đấu tranh chống độc tài nay trở mặt công kích lẫn nhau do lập trường quá khích, tình trạng bè phái hay bị quyền lực cám dỗ. Sự hình thành của cánh đối lập mới song song với sự ra đời của chính quyền mới rất cần thiết cho nền dân chủ, nhưng đồng thời lại mang đến hiểm hoạ đầu độc bầu không khí chính trị, cho nên cần có một ngành tư pháp độc lập để giám sát tiến trình dân chủ diễn ra trong khuôn khổ luật định.

Các cơ quan quốc tế (World Bank, NGO,…) có thể cố vấn để xây dựng cơ chế nhà nước; đầu tư và những khoản viện trợ nước ngoài sẽ giúp để phát triển nên kinh tế. Nhưng phần chủ lực vẫn nằm trong ý thức và sự sáng suốt của người trong nước.

[1] Problems of Democratic Transition and Consolidation: Southern Europe, South America, and Post-Communist Europe. Aug 8, 1996

[2] Getting to Democracy. Foreign Affairs Jan/Feb 2016





Tuesday, September 20, 2016

Cách Mạng Dân Chủ: thành công và thất bại (1)

Rất nhiều các cuộc cách mạng đã xảy ra kể từ sau Chiến Tranh Lạnh với những kết quả rất trái ngược: nền dân chủ của Nam Hàn và Đài Loan trở nên vững chắc; tại Miến Điện, Tunesia, Brazil, Argentina, Ukraine còn bấp bênh; Ai Cập thất bại trong khi Syrie và Lybia thành hai tấm thảm kịch nhân loại. Mỗi quốc gia đều có hoàn cảnh chính trị và lịch sử khác nhau nhưng thiết tưởng chúng ta cũng cần rút tỉa các bài học chuẩn bị cho quá trình chuyển đổi tại Việt Nam trong tương lai.

Hai nhà nghiên cứu Juan J. Linz và Alfred Stepan [1] đưa ra nhận xét rằng dân chủ là một mô hình nhà nước cho nên chỉ tồn tại trong một quốc gia. Ý tưởng tuy đơn giản nhưng mang áp dụng vào trường hợp hiện thời của Syrie khi hai cánh Hồi Giáo Sunni, Shiite và sắc dân Kurd đều muốn vẽ lại làn ranh giới khu vực thì không thể nào xây dựng thành công một nhà nước dân chủ.

Một khi đã có sự thống nhất về quốc gia thì vấn đề kế tiếp là dùng tiêu chuẩn nào để kết luận một cuộc cách mạng dân chủ thành công hay thất bại? Hai tác giả đưa ra câu trả lời rằng tiến trình dân chủ được xem như thành công một khi mọi thành phần trong xả hội đều đồng thuận với quan điểm dùng nghị trường dân chủ làm phương thức duy nhất để giải quyết mâu thuẫn.

Trong môi trường đó nhà nước không còn sợ bị lật đổ bằng bạo lực. Đại đa số quần chúng chấp nhận rằng mọi thay đổi dù nghiêm trọng thế nào đều phải được giải quyết thông qua tranh luận và lá phiếu. Xã hội xây dựng được nề nếp và cơ chế để giải quyết tranh chấp trên nền tảng hiến pháp và luật pháp. Nói một cách khác, ý thức dân chủ trở nên bình thường như hơi thở của người dân và trong giới cầm quyền.

Linz-Stepan đưa ra năm điều kiện cần thiết và hổ tương để nền dân chủ được hình thành và củng cố:
  1. Môi trường thuận tiện cho sự phát triển của xã hội dân sự
  2. Môi trường lành mạnh cho các sinh hoạt chính trị
  3. Luật pháp được tôn trọng
  4. Nền hành chánh hiệu quả
  5. Kinh tế phát triển
Xã hội dân sự là tiếng nói quần chúng nhằm thay đổi chính sách và nhà nước. Các hội đoàn dân sự thể hiện nguyện vọng, huy động và tổ chức đám đông nên không thể thiếu vắng trong tiến trình dân chủ. Những nhà cầm quyền độc tài đều muốn kiểm soát, đàn áp hay giết chết xã hội dân sự (như phong trào sinh viên ở Hồng Kông 2014 và Thiên An Môn 1998), nhưng cũng có lúc sẽ chùn tay (như tại Ba Lan Công Đoàn Đoàn Kết 1988, hay Ai Cập năm 2011) một khi phong trào dân sự được sự ủng hộ và tham gia của đông đảo quần chúng kể cả đa số thầm lặng vốn gồm những người không thuộc một hội đoàn nào.

Sinh hoạt chính trị trở nên lành mạnh khi có sự tham dự của nhiều đảng phái; quyền ứng cử và vận động tranh cử được tôn trọng; liên minh giữa các đảng phái được thành hình trong và ngoài nghị trường; quyền bày tỏ chính kiến, quyền biểu tình được bảo đảm. Mục tiêu nhằm tạo ra điều kiện để dân chúng bầu chọn và giám sát nhà nước. Cần lưu ý rằng trong chế độ độc tài xã hội dân sự nắm vai trò chống đối nhà cầm quyền, nhưng qua tiến trình dân chủ thì xã hội dân sự phải góp phần xây dựng nhà nước bằng cách trao và tạo tính chính đáng cho những đảng phái chính trị. Xã hội dân sự phải thoát ra khỏi quan niệm tuyệt đối xem thỏa hiệp là xấu như trong thời kỳ đấu tranh để tập quen dần với tương nhượng giữa các khối lợi ích và những khuynh hướng chính trị vì đây chính là nền tảng của dân chủ.

Để củng cố nền dân chủ, phát huy xã hội dân sự và những sinh hoạt chính trị lành mạnh thì luật pháp phải được tôn trọng. Nền Pháp Trị không dựa vào đám đông mà đặt trên nền tảng Hiến Định, cho nên chỉ sửa đổi Hiến Pháp trong các hoàn cảnh hết sức đặc biệt và thông qua đa số tuyệt đối. Pháp luật còn phải được hổ trợ bởi ngành Tư pháp độc lập, các pháp lệ (legal norms) và ý thức trong quần chúng.

Thể chế dân chủ một khi đã thành hình và muốn ổn định phải xây đựng được bộ máy công quyền và an ninh hiệu quả. Vấn đề này đặt biệt nghiêm trọng tại các nước cộng sản khi nền hành chánh, công an và quân đội đều trở thành công cụ của đảng Cộng sản nên lúc xảy ra cuộc cách mạng thì bị chống đối, giải tán hay tự rã. Mọi chính quyền dù độc tài hay dân chủ vẫn cần đến guồng máy hành chánh để thu thuế và phân phối các lợi tức đến từ thuế khoá như y tế, giáo dục, hưu trí cho dân chúng. Nhà nước dân chủ phải điều hành được giới công chức và an ninh một cách hiệu quả thì mới thực thi được các lời hứa hẹn và không mất dần hậu thuẫn trong quần chúng.

Điều kiện sau cùng cho nền dân chủ được củng cố là kinh tế phải tăng trưởng. Dân chúng có thể chấp nhận tình trạng đời sống khó khăn sau cách mạng nhưng họ phải tin rằng ngày mai tốt đẹp hơn hôm nay. Quyền sở hữu đất đai và hợp đồng thương mại phải được tôn trọng; nhà nước phải ngăn chận được các khối lợi ích độc quyền đầu cơ kinh tế và đầu cơ chính trị. Bởi vì kinh tế khủng hoảng hay trì trệ kéo dài sẽ xoi mòn tính chính đáng của nhà nước, đánh mất niềm tin trong dân chúng khiến tiến trình cải cách chính trị và kinh tế chậm lại.


Sunday, August 7, 2016

Tiền trên trời rớt xuống

Ai không tin có tiền từ trên trời rớt xuống thì việc này gần xảy đến tại Nhật, Âu Châu và ngay cả Hoa Kỳ: lý do các quốc gia công nghiệp lâm vào tình trạng giảm phát quá lâu nên đang tính đến chuyện in tiền đưa dân chúng xài để tiền mất giá giúp giá cả leo thang! Chiến lược nói trên được giải Nobel kinh tế Milton Friedman gọi là Helicopter Money vào thập niên 1960 và nay có thể mang ra thử nghiệm.

Trong thực tế cho dù người đi chợ chỉ thấy hàng hoá ngày càng đắt đỏ nhưng thống kê nhà nước cho biết lạm phát ở Nhật và Âu Châu khoảng 0% còn tại Hoa Kỳ 1%, tức là rất thấp so với chỉ tiêu 2% đề ra. Lạm phát cao khiến tiền bốc hơi làm dân chúng nghèo đi, nhưng lạm phát thấp cũng nguy hiểm vì bơm lên bong bóng và làm tăng lên khoảng cách giàu nghèo (sẽ giải thích phần sau). Cho nên các Ngân Hàng Trung Ương mới đề ra một mức lạm phát “tốt” 2% trong khi kinh tế tăng trưởng 3-4%, không nhanh không chậm thật là lý tưởng.

Nhưng kinh tế Âu-Mỹ-Nhật phát triển quá chậm trong nhiều thập niên nên Ngân Hàng Trung Ương buộc phải giữ phân lời cực thấp với hy vọng giúp dân chúng dễ dàng vay mượn mua sắm và doanh nghiệp dễ dàng vay vốn đầu tư, qua đó thúc đẩy tăng trưởng. Nhưng rồi lương bổng vẫn không chịu tăng, tức là dân chúng phải chấp nhận đi làm giá rẻ khi mà doanh nghiệp chưa cần nâng mức lương để thu hút nhân viên mới. Người tiêu thụ không dám ăn xài vì thu nhập còn thấp hay việc làm mới còn bấp bênh khiến doanh nghiệp lại càng không dám đầu tư do không thấy có triển vọng thêm khách hàng. Đây là cái vòng lẩn quẩn đáng sợ mà các Ngân Hàng Trung Ương tìm đủ mọi biện pháp thoát ra.

Lãi suất thấp còn bơm lên bong bóng đầu cơ. Tiền gởi ngân hàng không có lời nên nhà giàu đổ tiền mua bán địa ốc và cổ phiếu. Tình trạng này gọi là price inflation khi giá nhà đất tăng vọt khiến người đi làm càng khó mua nhà, còn thị trường chứng khoáng cũng phình ra cho dù doanh nghiệp tăng trưởng chậm. Hai quả bong bóng nói trên khiến khoảng cách giàu nghèo ngày càng sâu vì ai có sẵn của cải càng thêm giàu trong khi người đi làm ăn lương bị thụt lùi. Dân chúng bất mãn khuấy động thành các hiện tượng chính trị như Brexit, Bernie Sanders hay Donald Trump. 

Riêng tại Mỹ đồng đô-la tăng giá so với euro, yen hay nhân dân tệ. Lý do vì kinh tế Trung Quốc bấp bênh, Âu-Nhật trì trệ trong khi khối các nước đang phát triển Nga-Brazil v.v. rơi vào khủng hoảng nên giới đầu tư đổ tiền sang Hoa Kỳ tìm an toàn – dễ thấy nhất là ở Việt Nam vơ vét được đồng nào thì tìm cách gởi con đi Mỹ học rồi sau đó mua nhà. Giá địa ốc, chứng khoáng và công phiếu tại Mỹ tăng cùng một lúc vì được cả thế giới ưa chuộng là tình trạng chưa từng xảy ra từ trước đến nay.

Ngân Hàng Trung Ương Âu-Nhật đã áp dụng lãi suát âm để người gởi tiền ngân hàng chẳng những không có lời mà còn bị lổ, mục đích nhằm bắt dân chúng ngừng tiết kiệm mà phải tiêu xài. Nhưng ngay cả biện pháp này cũng không mang đến hiệu quả mong muốn nên nay phải bàn đến chuyện in tiền chất vào máy bay thảy xuống.

Nếu áp dụng thì nhà nước in bạc đầu tư vào hạ tầng (xây cầu đường, internet, hải cảng, v.v…) qua đó tạo việc làm lương cao cho dân chúng. Hay chính quyền gởi thẳng cho mỗi gia đình tấm check vài chục ngàn đô-la xài chơi.

Chỉ riêng việc các Ngân Hàng Trung Ương Âu-Nhật và ngay cả Hoa Kỳ bàn đến tiền trên trời rớt xuống cũng đã là khó tưởng tượng. Nhưng nếu áp dụng mà không thành công thì các Ngân Hàng Trung Ương… hết thuốc chửa (out of ammunition).


Sau khi bàn chuyện Âu-Mỹ-Nhật thì nhắc đến Việt Nam, câu chuyện helicopter money khiến người viết nhớ lại chuyện cười dân gian kể Stalin, Mao và Hồ cùng đi máy bay. Hồ thảy xuống 1 tờ $1 và nói sẽ có 1 người mừng tối nay; Mao thảy 10 tờ $1 cho 10 người vui; Stalin thảy 1000 tờ $1 đồng cho 1000 người vui. Viên phi công nghĩ thầm nếu thảy cả ba ông này ra khỏi máy bay thì có 2 tỷ người hân hoan.