Saturday, September 24, 2016

Cách Mạng Dân Chủ: thành công và thất bại – Phần 2

Trong phần 1 của loạt bài này người viết đúc kết ý kiến của hai nhà nghiên cứu Juan J. Linz và Alfred Stepan [1] về năm điều kiện cần thiết và hỗ tương để một nền dân chủ vừa mới hình thành được củng cố:

1. Môi trường thuận tiện cho sự phát triển của xã hội dân sự
2. Môi trường lành mạnh cho các sinh hoạt chính trị
3. Luật pháp được tôn trọng
4. Nền hành chánh hiệu quả
5. Kinh tế phát triển

Kỳ này người viết đúc kết bài viết của Abraham F. Lowenthal và Sergio Bitar [2]. Hai nhà nghiên cứu nói trên đã phỏng vấn nhiều vị lảnh đạo quốc gia và lãnh tụ cách mạng ở Ba Tây, Mễ Tây Cơ, Nam Dương, Phi Luật Tân, Ba Lan, Nam Phi, v.v.., nhằm rút tỉa kinh nghiệm từ tiến trình dân chủ tại những nước này. Nhiều bài học tuy còn quá sớm để áp dụng tại Việt Nam nhưng là hành trang cho các nhà dân chủ.

Kinh nghiệm đầu tiên là những cá nhân và đoàn thể tranh đấu cần phải khắc phục các bất đồng về mục tiêu, lãnh đạo, chiến lược và chiến thuật. Mâu thuẫn trong phe dân chủ có thể do nhà cầm quyền khích động nhưng cũng có thể bắt nguồn từ tâm lý cá nhân hay bè phái, nhất là trong hoàn cảnh xã hội dân sự bị đàn áp liên tục nên không xây dựng được truyền thống sinh hoạt chung. Một khi mầm mống chia rẽ trở nên sâu sắc thì triển vọng dân chủ trở nên mờ nhạt cho dù một cuộc cách mạng có xảy ra và nền độc tài bị lật đổ đi chăng nữa. Thí dụ điển hình như tại Ukraine, khi cuộc Cách mạng Cam năm 2004-05 đã xoá bỏ được kết quả bầu cử gian lận nhưng sau đó các phe nhóm đối lập lại tranh giành với nhau tạo cơ hội cho những tập đoàn thế lực thao túng và lũng đoạn xã hội. Từ đó khung cảnh chính trị bất ổn tại Ukraine kéo dài cho đến lúc bị Nga xâm lăng một thập niên sau.
Nhưng đoàn kết vẫn chưa đủ, lực lượng tranh đấu cần khai thác mâu thuẫn trong nội bộ giới cầm quyền và bắc nhịp cầu với những người từng tham gia nhà nước độc tài nhưng nay sẵn sàng ủng hộ phong trào dân chủ. Để đạt được mục tiêu này các nhà tranh đấu phải có thái độ cởi mở khoan dung thay vì hẹp hòi cổ võ cho lòng thù hận. Nếu được, những người thay đổi quan điểm cần được bảo đảm rằng sau này họ sẽ không bị trả thù và tịch thu tài sản. Phong trào dân chủ phải tự cách ly ra khỏi bạo lực và cực đoan. Riêng thành phần cấp tiến trong giới cầm quyền vẫn nên tiếp tục cũng cố thế lực và ảnh hưởng nội bộ cho dù đang liên lạc với lực lượng đấu tranh, vì thế các buổi gặp gỡ ban đầu có thể được tổ chức trong vòng kín đáo.

Qua quá trình thương thuyết thì phong trào dân chủ phải đòi hỏi nhượng bộ liên tục từ phía cầm quyền cho dù kết quả có nhỏ nhoi hay chậm chạp đi chăng nữa. Ngược lại lực lượng tranh đấu phải hoà hoãn trên vài khía cạnh, dù việc này khiến những người ủng hộ tức giận hay trở nên bất mãn. Thái độ nóng nảy và cực đoan không có chổ đứng trong tiến trình dân chủ.
Một khi nhà cầm quyền toàn trị bị lật đổ, nhiệm vụ cấp bách nhất là phải đặt bộ máy công quyền vào khuôn khổ luật pháp, tái lập an ninh và ngăn cản bạo loạn. Phong trào dân chủ cần cưỡng lại ý muốn xóa bỏ mọi vết tích của chế độ độc tài cho dù điều này rất hợp tình tại các nước hậu cộng sản khi mà nền hành chánh và an ninh là công cụ của đảng nên bị dân chúng khinh miệt và thù ghét. Công an cảnh sát phải được chấn chỉnh trong tinh thần phục vụ xã hội và bảo vệ trật tự chớ không nhằm sách nhiễu hay đe dọa quần chúng. Quân đội cần phải tách rời ra khỏi ngành an ninh và đặt dưới sự lãnh đạo của chính quyền dân sự. Các cấp chỉ huy có dính líu với khủng bố và tra tấn phải bị loại trừ. Sĩ quan trong quân đội không được quyền tham gia sinh hoạt chính trị. Bài học tại Miến Điện, Thái Lan và Ai Cập đều cho thấy nếu quân đội nắm giữ địa vị “siêu quyền lực” thì tiến trình dân chủ hoá sẽ gặp rất nhiều trở ngại.

Việc soạn thảo bản tân Hiến pháp là một quá trình lâu dài cần có sự đóng góp của mọi thành phần xã hội nên tạm thời tránh đưa ra các mục tiêu quá cao vọng nhưng lại kéo dài thời gian tranh luận. Nội dung bản Hiến pháp tuy quan trọng nhưng thời điểm, phương thức và sự tham gia của quần chúng khi soạn thảo Hiến pháp có tầm ảnh hưởng không kém. Các điều khoản về tu chính không nên quá khắt khe hay quá dễ dãi. Cần có sự tham gia của thành phần cấp tiến trong giới cầm quyền cũ để các nhân sự còn lại của chế độ độc tài tin rằng họ sẽ không bị trả thù mà sẽ được xét xử trong khuôn khổ pháp luật.

Các chính quyền dân chủ tân lập thường bị phê phán do kinh tế suy thoái hay vì không thực hiện các lời hứa hẹn về dân chủ, một mặt do quần chúng kỳ vọng quá nhiều trong khi nhà nước phải thừa hưởng một guồng máy hành chánh và an ninh đã băng hoại. Nhiều người trước đây sát cánh đấu tranh chống độc tài nay trở mặt công kích lẫn nhau do lập trường quá khích, tình trạng bè phái hay bị quyền lực cám dỗ. Sự hình thành của cánh đối lập mới song song với sự ra đời của chính quyền mới rất cần thiết cho nền dân chủ, nhưng đồng thời lại mang đến hiểm hoạ đầu độc bầu không khí chính trị, cho nên cần có một ngành tư pháp độc lập để giám sát tiến trình dân chủ diễn ra trong khuôn khổ luật định.

Các cơ quan quốc tế (World Bank, NGO,…) có thể cố vấn để xây dựng cơ chế nhà nước; đầu tư và những khoản viện trợ nước ngoài sẽ giúp để phát triển nên kinh tế. Nhưng phần chủ lực vẫn nằm trong ý thức và sự sáng suốt của người trong nước.

[1] Problems of Democratic Transition and Consolidation: Southern Europe, South America, and Post-Communist Europe. Aug 8, 1996

[2] Getting to Democracy. Foreign Affairs Jan/Feb 2016





Tuesday, September 20, 2016

Cách Mạng Dân Chủ: thành công và thất bại (1)

Rất nhiều các cuộc cách mạng đã xảy ra kể từ sau Chiến Tranh Lạnh với những kết quả rất trái ngược: nền dân chủ của Nam Hàn và Đài Loan trở nên vững chắc; tại Miến Điện, Tunesia, Brazil, Argentina, Ukraine còn bấp bênh; Ai Cập thất bại trong khi Syrie và Lybia thành hai tấm thảm kịch nhân loại. Mỗi quốc gia đều có hoàn cảnh chính trị và lịch sử khác nhau nhưng thiết tưởng chúng ta cũng cần rút tỉa các bài học chuẩn bị cho quá trình chuyển đổi tại Việt Nam trong tương lai.

Hai nhà nghiên cứu Juan J. Linz và Alfred Stepan [1] đưa ra nhận xét rằng dân chủ là một mô hình nhà nước cho nên chỉ tồn tại trong một quốc gia. Ý tưởng tuy đơn giản nhưng mang áp dụng vào trường hợp hiện thời của Syrie khi hai cánh Hồi Giáo Sunni, Shiite và sắc dân Kurd đều muốn vẽ lại làn ranh giới khu vực thì không thể nào xây dựng thành công một nhà nước dân chủ.

Một khi đã có sự thống nhất về quốc gia thì vấn đề kế tiếp là dùng tiêu chuẩn nào để kết luận một cuộc cách mạng dân chủ thành công hay thất bại? Hai tác giả đưa ra câu trả lời rằng tiến trình dân chủ được xem như thành công một khi mọi thành phần trong xả hội đều đồng thuận với quan điểm dùng nghị trường dân chủ làm phương thức duy nhất để giải quyết mâu thuẫn.

Trong môi trường đó nhà nước không còn sợ bị lật đổ bằng bạo lực. Đại đa số quần chúng chấp nhận rằng mọi thay đổi dù nghiêm trọng thế nào đều phải được giải quyết thông qua tranh luận và lá phiếu. Xã hội xây dựng được nề nếp và cơ chế để giải quyết tranh chấp trên nền tảng hiến pháp và luật pháp. Nói một cách khác, ý thức dân chủ trở nên bình thường như hơi thở của người dân và trong giới cầm quyền.

Linz-Stepan đưa ra năm điều kiện cần thiết và hổ tương để nền dân chủ được hình thành và củng cố:
  1. Môi trường thuận tiện cho sự phát triển của xã hội dân sự
  2. Môi trường lành mạnh cho các sinh hoạt chính trị
  3. Luật pháp được tôn trọng
  4. Nền hành chánh hiệu quả
  5. Kinh tế phát triển
Xã hội dân sự là tiếng nói quần chúng nhằm thay đổi chính sách và nhà nước. Các hội đoàn dân sự thể hiện nguyện vọng, huy động và tổ chức đám đông nên không thể thiếu vắng trong tiến trình dân chủ. Những nhà cầm quyền độc tài đều muốn kiểm soát, đàn áp hay giết chết xã hội dân sự (như phong trào sinh viên ở Hồng Kông 2014 và Thiên An Môn 1998), nhưng cũng có lúc sẽ chùn tay (như tại Ba Lan Công Đoàn Đoàn Kết 1988, hay Ai Cập năm 2011) một khi phong trào dân sự được sự ủng hộ và tham gia của đông đảo quần chúng kể cả đa số thầm lặng vốn gồm những người không thuộc một hội đoàn nào.

Sinh hoạt chính trị trở nên lành mạnh khi có sự tham dự của nhiều đảng phái; quyền ứng cử và vận động tranh cử được tôn trọng; liên minh giữa các đảng phái được thành hình trong và ngoài nghị trường; quyền bày tỏ chính kiến, quyền biểu tình được bảo đảm. Mục tiêu nhằm tạo ra điều kiện để dân chúng bầu chọn và giám sát nhà nước. Cần lưu ý rằng trong chế độ độc tài xã hội dân sự nắm vai trò chống đối nhà cầm quyền, nhưng qua tiến trình dân chủ thì xã hội dân sự phải góp phần xây dựng nhà nước bằng cách trao và tạo tính chính đáng cho những đảng phái chính trị. Xã hội dân sự phải thoát ra khỏi quan niệm tuyệt đối xem thỏa hiệp là xấu như trong thời kỳ đấu tranh để tập quen dần với tương nhượng giữa các khối lợi ích và những khuynh hướng chính trị vì đây chính là nền tảng của dân chủ.

Để củng cố nền dân chủ, phát huy xã hội dân sự và những sinh hoạt chính trị lành mạnh thì luật pháp phải được tôn trọng. Nền Pháp Trị không dựa vào đám đông mà đặt trên nền tảng Hiến Định, cho nên chỉ sửa đổi Hiến Pháp trong các hoàn cảnh hết sức đặc biệt và thông qua đa số tuyệt đối. Pháp luật còn phải được hổ trợ bởi ngành Tư pháp độc lập, các pháp lệ (legal norms) và ý thức trong quần chúng.

Thể chế dân chủ một khi đã thành hình và muốn ổn định phải xây đựng được bộ máy công quyền và an ninh hiệu quả. Vấn đề này đặt biệt nghiêm trọng tại các nước cộng sản khi nền hành chánh, công an và quân đội đều trở thành công cụ của đảng Cộng sản nên lúc xảy ra cuộc cách mạng thì bị chống đối, giải tán hay tự rã. Mọi chính quyền dù độc tài hay dân chủ vẫn cần đến guồng máy hành chánh để thu thuế và phân phối các lợi tức đến từ thuế khoá như y tế, giáo dục, hưu trí cho dân chúng. Nhà nước dân chủ phải điều hành được giới công chức và an ninh một cách hiệu quả thì mới thực thi được các lời hứa hẹn và không mất dần hậu thuẫn trong quần chúng.

Điều kiện sau cùng cho nền dân chủ được củng cố là kinh tế phải tăng trưởng. Dân chúng có thể chấp nhận tình trạng đời sống khó khăn sau cách mạng nhưng họ phải tin rằng ngày mai tốt đẹp hơn hôm nay. Quyền sở hữu đất đai và hợp đồng thương mại phải được tôn trọng; nhà nước phải ngăn chận được các khối lợi ích độc quyền đầu cơ kinh tế và đầu cơ chính trị. Bởi vì kinh tế khủng hoảng hay trì trệ kéo dài sẽ xoi mòn tính chính đáng của nhà nước, đánh mất niềm tin trong dân chúng khiến tiến trình cải cách chính trị và kinh tế chậm lại.


Sunday, August 7, 2016

Tiền trên trời rớt xuống

Ai không tin có tiền từ trên trời rớt xuống thì việc này gần xảy đến tại Nhật, Âu Châu và ngay cả Hoa Kỳ: lý do các quốc gia công nghiệp lâm vào tình trạng giảm phát quá lâu nên đang tính đến chuyện in tiền đưa dân chúng xài để tiền mất giá giúp giá cả leo thang! Chiến lược nói trên được giải Nobel kinh tế Milton Friedman gọi là Helicopter Money vào thập niên 1960 và nay có thể mang ra thử nghiệm.

Trong thực tế cho dù người đi chợ chỉ thấy hàng hoá ngày càng đắt đỏ nhưng thống kê nhà nước cho biết lạm phát ở Nhật và Âu Châu khoảng 0% còn tại Hoa Kỳ 1%, tức là rất thấp so với chỉ tiêu 2% đề ra. Lạm phát cao khiến tiền bốc hơi làm dân chúng nghèo đi, nhưng lạm phát thấp cũng nguy hiểm vì bơm lên bong bóng và làm tăng lên khoảng cách giàu nghèo (sẽ giải thích phần sau). Cho nên các Ngân Hàng Trung Ương mới đề ra một mức lạm phát “tốt” 2% trong khi kinh tế tăng trưởng 3-4%, không nhanh không chậm thật là lý tưởng.

Nhưng kinh tế Âu-Mỹ-Nhật phát triển quá chậm trong nhiều thập niên nên Ngân Hàng Trung Ương buộc phải giữ phân lời cực thấp với hy vọng giúp dân chúng dễ dàng vay mượn mua sắm và doanh nghiệp dễ dàng vay vốn đầu tư, qua đó thúc đẩy tăng trưởng. Nhưng rồi lương bổng vẫn không chịu tăng, tức là dân chúng phải chấp nhận đi làm giá rẻ khi mà doanh nghiệp chưa cần nâng mức lương để thu hút nhân viên mới. Người tiêu thụ không dám ăn xài vì thu nhập còn thấp hay việc làm mới còn bấp bênh khiến doanh nghiệp lại càng không dám đầu tư do không thấy có triển vọng thêm khách hàng. Đây là cái vòng lẩn quẩn đáng sợ mà các Ngân Hàng Trung Ương tìm đủ mọi biện pháp thoát ra.

Lãi suất thấp còn bơm lên bong bóng đầu cơ. Tiền gởi ngân hàng không có lời nên nhà giàu đổ tiền mua bán địa ốc và cổ phiếu. Tình trạng này gọi là price inflation khi giá nhà đất tăng vọt khiến người đi làm càng khó mua nhà, còn thị trường chứng khoáng cũng phình ra cho dù doanh nghiệp tăng trưởng chậm. Hai quả bong bóng nói trên khiến khoảng cách giàu nghèo ngày càng sâu vì ai có sẵn của cải càng thêm giàu trong khi người đi làm ăn lương bị thụt lùi. Dân chúng bất mãn khuấy động thành các hiện tượng chính trị như Brexit, Bernie Sanders hay Donald Trump. 

Riêng tại Mỹ đồng đô-la tăng giá so với euro, yen hay nhân dân tệ. Lý do vì kinh tế Trung Quốc bấp bênh, Âu-Nhật trì trệ trong khi khối các nước đang phát triển Nga-Brazil v.v. rơi vào khủng hoảng nên giới đầu tư đổ tiền sang Hoa Kỳ tìm an toàn – dễ thấy nhất là ở Việt Nam vơ vét được đồng nào thì tìm cách gởi con đi Mỹ học rồi sau đó mua nhà. Giá địa ốc, chứng khoáng và công phiếu tại Mỹ tăng cùng một lúc vì được cả thế giới ưa chuộng là tình trạng chưa từng xảy ra từ trước đến nay.

Ngân Hàng Trung Ương Âu-Nhật đã áp dụng lãi suát âm để người gởi tiền ngân hàng chẳng những không có lời mà còn bị lổ, mục đích nhằm bắt dân chúng ngừng tiết kiệm mà phải tiêu xài. Nhưng ngay cả biện pháp này cũng không mang đến hiệu quả mong muốn nên nay phải bàn đến chuyện in tiền chất vào máy bay thảy xuống.

Nếu áp dụng thì nhà nước in bạc đầu tư vào hạ tầng (xây cầu đường, internet, hải cảng, v.v…) qua đó tạo việc làm lương cao cho dân chúng. Hay chính quyền gởi thẳng cho mỗi gia đình tấm check vài chục ngàn đô-la xài chơi.

Chỉ riêng việc các Ngân Hàng Trung Ương Âu-Nhật và ngay cả Hoa Kỳ bàn đến tiền trên trời rớt xuống cũng đã là khó tưởng tượng. Nhưng nếu áp dụng mà không thành công thì các Ngân Hàng Trung Ương… hết thuốc chửa (out of ammunition).


Sau khi bàn chuyện Âu-Mỹ-Nhật thì nhắc đến Việt Nam, câu chuyện helicopter money khiến người viết nhớ lại chuyện cười dân gian kể Stalin, Mao và Hồ cùng đi máy bay. Hồ thảy xuống 1 tờ $1 và nói sẽ có 1 người mừng tối nay; Mao thảy 10 tờ $1 cho 10 người vui; Stalin thảy 1000 tờ $1 đồng cho 1000 người vui. Viên phi công nghĩ thầm nếu thảy cả ba ông này ra khỏi máy bay thì có 2 tỷ người hân hoan. 

Lập trường đối ngoại của bà Clinton và ông Trump

Cuộc bầu cử năm 2016 sẽ vô cùng sôi nổi giữa người phụ nử đầu tiên ứng cử Tổng Thống Mỹ bà Hillary Clinton với nhà tỷ phú bạo miệng Donald Trump. Người viết xin tóm tắt quan điểm ngoại giao của hai ứng cử viên như sau:

Lập trường và thành tích của bà Clinton rỏ ràng vì tiếp nối truyền thống ngoại giao Hoa Kỳ từ sau Thế Chiến Thứ Hai:

  1. Hoa Kỳ cần duy trì và bảo vệ trật tự quốc tế thông qua các hiệp ước hổ tương với những nước đồng minh.
  2. Mỹ phải chủ động phát huy hai giá trị phổ quát gồm dân chủ và nhân quyền.

Nước Mỹ trông đợi bà Clinton sẽ cứng rắn hơn đối với Nga, Trung và tại Trung Đông so với Tổng Thống Obama hiện thời.

Ngược lại quan điểm của ông Trump phản truyền thống (unconventional) và gồm ba điểm chính:

  1. Mỹ sẽ tôn trọng các cam kết nếu những nước đồng minh gánh vác phần trách nhiệm của mình.
  2. Chính sách của Hoa Kỳ bừa bãi áp đặt dân chủ tại Trung Đông là sai lầm.
  3. Đặt quyền lợi của nước Mỹ trước tiên (Make America Great Again).

Ông Trump vốn là doanh nhân nên tính toán lời lỗ không theo khuông mẫu ngoại giao thông thường từ trước đến nay:

    1. Toàn cầu hoá và trật tự thế giới hiện giờ khiến Mỹ mỗi năm buôn bán lỗ lã 800 tỷ USD và mất hàng triệu việc làm nên cần tổ chức lại cho phù hợp với quyền lợi của Hoa Kỳ.

    1. Mỹ không thể tiếp tục bao thầu NATO nếu Âu Châu cắt giảm ngân sách quốc phòng để chi phí cho an sinh xã hộI trong khi chính Âu Châu bị Nga và khủng bố Hồi Giáo đe doạ trực tiếp, vì làm điều này không khác đem tiền cho nhà giàu (welfare for the rich).

    1. Nếu Nga đe doạ các nước NATO ở vùng Baltic thì những cường quốc Âu Châu phải chống trả ở tuyến đầu chớ không phải Mỹ.

    1. Việc lật đổ các nhà độc tài ở Trung Đông chẳng những ngu xuẩn mà còn mang đến thảm hoạ nhân loại: hất Saddam Hussein của Iraq làm hỏng thế cân bằng giữa Sunni-Ả Rập và Shiite-Iran; lật Mubarak ở Ai Cập vốn là đồng minh lâu đời của Mỹ; Khadaffi của Lybia và Assad của Syrie không hề đe dọa Tây Phương. Hơn thế các lãnh tụ này dù tàn ác nhưng vẫn khá hơn rất nhiều so với ISIS.

    1. Nhật phải tự trang bị vũ khí nguyên tử để răn đe Trung Quốc chớ không thể chờ Hoa Kỳ can thiệp (Đã có vài chuyên viên giải thích lập trường này vì ba lý do: 1. Nhật sớm muộn sẽ bị Trung Quốc đè bẹp về dân số, kinh tế và quân sự; 2. Dân Mỹ chưa chắc chấp nhận chiến tranh với Trung Quốc dù là để bảo vệ Nhật; 3. Nhưng Hoa Kỳ sẽ phải can thiệp để chận đứng một cuộc chiến tranh hạch nhân Hoa-Nhật).

Ông Trump nếu thành Tổng Thống sẽ mặc cả trả giá (make deals) chớ không đàm phán thương lượng theo lề lối ngoại giao. Điều làm NATO và Nhật-Hàn kinh sợ là ông Trump không chỉ dọa xuông mà dám ngưng mặc cả (walk away from the offer) nếu không có lợi.

Ông Trump chưa phát biểu về biển Đông, nhưng dựa trên lập trường của ông thì người viết có thể dự đoán:

  1. Muốn Mỹ đem tàu chiến vào biển Đông hay Cam Ranh thì Hà Nội phải trả… tiền xăng, chớ không thể tiếp tục đem tiền thu vén trong nước chạy ra ngoại quốc mua nhà trong khi núp bóng Hoa Kỳ chống Trung Quốc mà vẫn tìm mua bán với Hoa Lục.

  1. Mỹ chỉ giúp Hà Nội đu dây nếu hành động đu dây nếu có lợi cho Hoa Kỳ, chẳng hạn khiến bang giao Việt-Trung ngày thêm rạn nứt còn nhà cầm quyền cộng sản càng thêm cô lập với dân chúng.

  1. Hoa Kỳ và Trung Quốc không giao tranh mà sẽ mặc cả về biển Đông nhưng Bắc Kinh đừng vội mừng vì cò ke giá cả với ông Trump không phải dễ ăn.


Monday, June 27, 2016

Ý kiến ngắn về hạt giống dân chủ

Dân chủ trong một nước đang phát triển (developing country) và tại một quốc gia tiến bộ (developed nation) có thể được ví với hai thửa ruộng khác nhau:
  1. Nước đang mở mang tựa như mảnh đất vừa được khai phá nên các loài cỏ dại (tập đoàn lợi ích, tệ đoan xã hội, …) cùng cỏ tốt (tiềm năng và nhận thức trong quần chúng, …) đua nhau mọc rất nhanh. Nếu không được vun bồi kỹ lưỡng thì cỏ dại sẽ lan tràn và đè bẹp các giống cỏ tốt.
  2. Nước tiến bộ giống như thửa ruộng đang tươi tốt. Tuy vậy loài cỏ xấu lúc nào cũng rình rập sinh sôi trở lại nhất là trong hoàn cảnh mùa màng thay đổi, hạn hán hay ngập lũ (khủng hoảng kinh tế, va chạm với các nhóm di dân,…)
Cho nên dân chủ không chỉ là mục tiêu mà còn là tiến trình, cũng như nhà nông năm tháng miệt mài không ngừng chăm sóc diệt loài cỏ dại cho đồng ruộng xanh tươi.
Việt Nam từ ngày đổi mới đã thể hiện rất nhiều tiến bộ khích lệ kèm theo những tệ đoan nhanh chóng tràn lan. Khía cạnh tích cực bao gồm hội nhập vào quốc tế, thương mại phát triển, dân chúng tìm tòi mở mang kiến thức, hàng triệu người thoát ra khỏi cảnh nghèo khó bần cùng tạo điều kiện thành hình một tầng lớp trung lưu và doanh nhân vô cùng năng động. Nhưng bên cạnh đó là bức tranh ảm đạm khi phe đảng cầm quyền và tập đoàn lợi ích cấu kết và bén rễ ngày càng sâu; công an trị và trộm cướp hoành hành; đạo đức xã hội suy đồi vì đa số giành giật món lợi tư và hưởng thụ nhất thời thay vì chuẩn bị lâu dài cho tương lai.
Nếu chỉ nhìn một chiều để phủ nhận mọi điểm tích cực trong xã hội cũng giống như chối bỏ trên đất nước không còn có giống cỏ tốt. Nhưng nếu chóa mắt trước những hào nhoáng và tiền của trong xã hội thì lại quên đi nguy cơ cỏ dại tràn lan rất nhanh. Tương lai của đất nước liệu sẽ trở thành một quốc gia văn minh tùy thuộc vào các điều kiện thuận lợi cho loài cỏ tốt phát triển như dân chủ, pháp trị, thị trường tự do, doanh nghiệp tư nhân, ý thức công dân có đẩy lùi dần độc tài, các tập đoàn lợi ích và chủ nghĩa tư lợi cá nhân hay không.
Hoa Kỳ và Âu Châu là hai khu vực có nền móng dân chủ lâu đời và vững chắc, dù vậy cỏ dại vẫn rình mò lan tràn trở lại khi lơ là thiếu chăm sóc. Gần 10 năm sau cuộc đại khủng hoảng kinh tế cho thấy khoảng cách giàu nghèo ngày thêm sâu đậm; trào lưu toàn cầu hóa đã bỏ rơi một thành phần không nhỏ trong xã hội; di dân mang theo tội phạm, khủng bố, tình trạng lạm dụng trợ cấp tạo ra tâm trạng bất an vì dân chúng cảm thấy bị phản bội và cấu trúc xã hội (social structure) thay đổi nhanh hơn là họ có thể thích ứng. Áp lực kiểm duyệt tư tưởng và ngôn luận (politically correct) dồn nén không cho người dân bày tỏ sự phẫn nộ, cho nên đến khi bùng nổ sẽ khiến các cuộc tranh luận trở nên khích động và mang màu sắc giận dữ, kỳ thị và chia rẽ.
Khái niệm dân chủ đang trải qua một thời kỳ khủng hoảng tận cội rễ ở cả các nước văn minh lẫn những quốc gia chậm tiến. Nền dân chủ đủ vững để thích ứng và tồn tại, nhưng những thử thách hiện giờ cho thấy tiến trình này không tất yếu mà sẽ trải qua nhiều cơn quặn thắt, bởi thế rất cần đến sự suy xét chín chắn, nghiêm túc và thành thật trong mọi tầng lớp xã hội hầu đóng góp cho bước đi này ngày một vững vàng.

Sunday, May 15, 2016

Sự phẩn nộ của giới trung lưu nước Mỹ trong kỳ bầu cử 2016

Có nhận xét cho rằng tại một nước độc tài khi lợi tức bình quân tiến lên khoảng 4000 USD sẽ dẫn đến cuộc cách mạng dân chủ vì khi đó một giới trung lưu được hình thành vững chắc, ý thức quần chúng lên cao đòi hỏi sự có sự tham dự và pháp trị trong mọi sinh hoạt của xã hội để quyền lợi của mọi người được bảo vệ đồng đều. Nhưng ngược lại ở một nước dân chủ tiến bộ nhưng khi thành phần trung lưu bị thụt lùi thì cơ nguy quá khích dẫn đến độc tài lại nổi lên. Điều này đã từng xảy ra ở Đức trong những năm 1930 và có dấu hiệu hiện đang tái diễn tại nhiều quốc gia Âu-Mỹ.

Nhiều nhà quan sát đánh giá hai ông Donald Trump thuộc đảng Cộng Hoà và Bernie Sander thuộc đảng Dân Chủ được nhiều người ủng hộ do khoảng cách giàu nghèo ngày thêm sâu sắc ở Hoa Kỳ. Sự thật phức tạp hơn thế nhưng lại được phản ảnh qua câu nói thông thường và dễ hiểu trong cộng đồng người gốc Việt “ở Mỹ hoặc thật giàu hay thật nghèo chứ ở giữa là chết! Giàu thì dĩ nhiên không lo còn nghèo thì được nhà nước lo trọn gói chỉ có giới trung lưu là bị chặc chém thuế má mà còn phải lo trả tiền nhà, bảo hiểm, y tế, giáo dục v.v…”

Tuy nói ra như vậy nhưng nỗi bất mãn trong cộng đồng người Mỹ gốc Việt không nhiều vì vẫn còn thuộc dạng di dân mới đến nên mỗi thế hệ tiếp tục khấm khá hơn thế hệ đi trước. Ngược lại giới trung lưu người bản xứ nhất là ở các tiểu bang vùng Trung Mỹ đang phẩn nộ vì cuộc sống của họ ngày thêm khó khăn trong lúc tương lai con cái cũng không thấy sáng sủa gì hơn.

Giới trung lưu giận giữ khi chi phí về y tế và giáo dục cứ nhảy vọt, lương bổng không tăng mà thuế má ngày càng nhiều. Họ bất mãn với tình cảnh phân biệt địa vị khi ban giám đốc công ty lương cao hơn nhân viên cả ngàn lần, lúc bị đuổi việc còn hưởng thêm bổng lộc hàng triệu đô-la theo quy định trong giao kèo còn dân thường mất việc thì… ráng chịu. Trong cuộc khủng hoảng 2007-09 người dân bị đuổi nhà không được giúp đỡ trong khi nhà nước tung hàng trăm tỷ đô-la tiền thuế để cứu cấp các ngân hàng vốn làm ăn cẩu thả không cho xập tiệm.

Giới trung lưu bất mãn vì di dân bất hợp pháp lại đòi được luật pháp bảo vệ; nhà nghèo được chu cấp tiền nhà, hưu trí và giáo dục con cái, nhận Medicare rồi giờ thêm ObamaCare, ăn xài lãng phí và lạm dụng trợ cấp. Nhưng vẫn chưa đủ vì một thành phần di dân còn du nhập tội ác hoặc trở thành khủng bố phản bội chính đất nước đã cưu mang cho họ.

Sinh viên âu lo cho tương lai vì mang núi nợ khổng lồ  (tổng số nợ giáo dục trên 1000 tỷ USD) trong lúc việc làm khó kiếm, lương không đủ trả nợ thì làm thế nào để mua nhà và tạo lập gia đình sự nghiệp.

Người đứng tuổi không an tâm khi hảng xưởng lần lượt đóng cửa đem sản xuất ra Tàu, Mễ hay Việt Nam, họ tìm 5-7 năm mà không có việc làm bằng với mức lương trước đây. Các hiệp ước thương mại quốc tế như NAFTA, TPP hay TTIP mang lợi lộc đến cho doanh nghiệp, giới tiêu thụ và nước ngoài nhưng không có ích gì khi họ thất nghiệp lâu dài! Trào lưu toàn cầu hóa đã bỏ rơi và làm bể nồi cơm của họ.

Những chính trị gia tuy do dân bầu nhưng khi đắc cử lại tranh giành quyền lợi đảng phái, bị tài phiệt mua chuộc và làm tê liệt sinh hoạt nhà nước.  Uy tín của Quốc Hội xuống đến mức thấp nhất chỉ còn 17% dân chúng tin tưởng.

Hoa Kỳ bỏ xương máu và hàng ngàn tỷ Mỹ-kim để đi vào những cuộc phiêu lưu chính trị và quân sự không lối thoát tại Trung Đông và Trung Á. Nhiều quốc gia đồng minh Âu-Á núp sau cánh dù an ninh mà không chịu chi tiền, còn các nước “bạn” như Saudi Arabia hay Pakistan lại nuôi dưỡng khủng bố đâm sau lưng nước Mỹ. Cho nên không ít dân chúng muốn nhà nước phải tái định nghĩa “quyền lợi chiến lược” để không còn làm sen đầm quốc tế mà dành thêm nổ lực về giáo dục và hạ tầng nhằm tăng cường tính cạnh tranh trong thế kỷ 21.

Thực tế không ảm đạm như bức tranh vẽ nói trên vì Hoa Kỳ vẫn là quốc gia cường thịnh, ổn định, cơ hội, dân chủ và pháp quyền với nền kinh tế phát triển hàng đầu trên thế giới. Tuy vậy hiện tượng Donald Trump và Bernie Sander cho thấy lợi ích không phân phối đồng đều trong dân chúng nên không ít người thuộc thành phần trung lưu vô cùng bất mãn. Họ táo bạo chọn một ông tỷ phú dao to búa lớn và một chính trị gia vô danh cánh tả như lá phiếu nổi loạn nhằm chống lại hệ thống quyền lực hiện thời.

Bà Hillary Clinton tuy tài giỏi và nhiều kinh nghiệm nhưng lại là hiện thân của hệ thống quyền lực, rất nhiều người nghĩ nếu bà có lên làm Tổng Thống thì phe Cộng Hoà cũng sẽ chống đối kịch liệt khiến nhà nước bị bế tắc như dưới thời Obama. Âu là chọn một nhân vật táo bạo không bị mua chuộc vì ông đã quá giàu nên dám ngông cuồng phát biểu những sự thật được nhiều người đồng ý mà lại không dám nói ra!

Đây có thể là một chọn lựa dại dột hay điên rồ nhưng phản ảnh tâm lý nóng nảy của người Mỹ. Ngược lại đây có thể là cơn chấn động cần thiết trong một xã hội dân chủ để đánh thức giới tinh hoa rằng dân chúng vô cùng bất mãn nhưng họ vẫn còn kiên nhẫn chọn lựa đấu tranh trên hội trường và bằng lá phiếu thay vì bạo loạn nổi dậy làm cách mạng lật đổ chính quyền.


Bài học lớn nhất chính là số phận của nền dân chủ gắng liền với giai cấp trung lưu.

Sunday, April 24, 2016

Lãi suất thấp và lãi suất âm

Dân Mỹ buồn khi gởi tiền vào ngân hàng do lãi suất quá thấp, nhưng vui khi sắp mua nhà vì tiền lời rẻ. Như vậy lãi suất thấp ưu đãi cho kẻ đi vay mà thiệt thòi cho người tiết kiệm.
 
Vì lãi suất ngân sắp sĩ 1% nên nhiều người phải đầu tư vào cổ phiếu để tìm lợi nhuận.  Kết quả là giá nhà và chứng khoáng tăng nhanh hơn lương bổng – các chuyên gia gọi đây là asset inflation khi giá cả địa ốc và chứng khoáng nhảy vọt không tương xứng với đồng lương. Khoảng cách giàu nghèo theo đó thêm sâu đậm vì ai có tài sản thì giàu thêm còn dân đi làm ăn lương lại dậm chân tại chổ.

Trên lý thuyết Ngân Hàng Trung Ưong giữ lãi suất thấp để giúp dân chúng tiêu xài và doanh nghiệp mượn vốn kinh doanh qua đó thúc đẩy tăng trưởng. Nhưng dù tiền lời thấp mà lương không tăng, nợ củ còn nhiều thì ít ai dám tăng chi. Doanh nghiệp khi đó liệu không tăng khách hàng thì cũng chẳng cần khuyếch trương – tiến trình này gọi là de-leveraging do thời gian dài trước khủng hoảng 2007 dân Mỹ nợ nhà và tín dụng quá nhiều nên nay phải tiết kiệm trả nợ làm cho biện pháp kềm giữ tiền lời thấp của Ngân Hàng Trung Ưong chẳng những không hiệu quả mà còn sản sinh ra hai bong bóng địa ốc và chứng khoáng.

(Điều đáng ghi nhận là tuy lãi suất ngắn hạng do Ngân Hàng Trung Ương quyết định trong khi mức lời dài hạn 10, 20 năm do thị trường đề xuất, nhưng nếu Ngân Hàng Trung Ưong cho biết sẽ giữ lãi suất ngắn hạn lâu dài thì mức lời dài hạn cũng theo đó đi xuống)

Mấu chốt nơi đây là tại sao lương bổng không tăng trong lúc tỷ lệ thất nghiệp xuống rất thấp dưới 5% thì chưa ai rõ. Có chuyên gia cho rằng lương tuy tăng chậm nhưng có dấu hiệu đang lên; người khác nhận xét dân chúng tìm được việc làm dù lương dù cũng mừng nên không kén chọn; hoặc áp lực lương bổng đến từ các nước đang phát triển ở Á Châu khiến giá thành ngày càng rẻ với mức lương cực thấp.

Nhà nước cần lương tăng không những cho dân chúng có thêm tiền tiêu xài mà còn nhằm đẩy lạm phát lên cao. Lạm phát khiến tiền bốc hơi theo đó nợ cũng tự động vơi dần, đây là biện pháp vô cùng hữu hiệu (có người gọi là tráo trở) để cắt giảm các khối nơ khổng lồ công và tư. Ai mua nhà cũng biết khi bắt đầu trả tiền hàng tháng thấy quá nhiều nhưng 10, 20 năm sau đó mới mừng vì còn rẻ hơn đi thuê chổ ở. Hoa Kỳ đặt chỉ tiêu lạm phát 2% làm tiêu chuẩn cho nền kinh tế phát triển vừa phải mà không suy thoái hay bốc hỏa, nhưng hiện chỉ đạt dưới 1% nên sợ bị rơi vào tình trạng giảm phát (deflation).

Kinh tế Âu-Nhật trì trệ hơn Mỹ rất nhiều nên phải đẩy lãi suất chỉ đạo dưới con số 0%. Như vậy hiện 40% GDP toàn cầu nằm trong khu vực lãi suất âm, một sự kiện chưa từng có! Tình trạng này giống như ngân hàng tư nhân cho vay không hết nên gởi $100 vào Ngân Hàng Trung Ương, nhưng khi rút ra chỉ còn $99. Đây là cách nhà nước ép ngân hàng tư không ôm tiền mặt mà phải cho vay để thúc đẩy tăng trưởng. Ngân hàng tư bị ép sẽ phải siết lãi suất đến mức âm khiến dân chúng bớt tiết kiệm mà phải chi tiêu. Khổ nổi bị chèn ép nên tâm lý doanh nghiệp và dân chúng càng thêm thận trọng, doanh nghiệp không muốn mượn thêm vốn vì dân chúng dè dặt chẳng chịu chi tiêu.

Không ai biết lãi suất âm nếu kéo dài sẽ đem lại hậu quả gì, nhưng trên lý thuyết nó làm đảo lộn tiến trình phối trí tư bản (capital) của thị trường là dân chúng dư tiền gởi vào nhà băng để rồi ngân hàng cho doanh nghiệp vay mượn.
 
Để thoát ra khỏi tình trạng suy thoái phải tấn công từ hai hướng: tài chánh và ngân sách. Biện pháp tài chánh là bơm tín dụng và giữ lãi suất thấp do Ngân Hàng Trung Ưong thực hiện nhưng có vẽ gần hết hiệu quả. Giải pháp thứ nhì là cắt thuế (bỏ tiền vào túi dân chúng) và bội chi (nhà nước ào ạt đầu tư vào hạ tầng như cầu đường, phi trường, điện nước internet… qua đó tạo việc làm để đẩy mức lương và tiêu thụ) nhưng lại làm tăng gánh nợ công khổng lồ của Âu-Mỹ-Nhật. Một biện pháp khác được đề ra là xoá nợ, ở Mỹ gồm nợ học vấn (education loan mà gánh nặng lên đến 1000 tỷ USD) và nợ địa ốc cho những khu vực chọn lọc, tại Âu-Châu là nợ cho Hy Lạp, Bồ Đào Nha, v.v…

 
Nhưng giảm thuế, bội chi và xóa nợ đều gặp nhiều chống đối dữ dội từ nhiều thành phần xã hội. Cho nên giải quyết vấn nạn kinh tế tuỳ thuộc vào chính trị mà điển hình là các cuộc bầu cử ở Âu-Mỹ trong vòng 2 năm tới đây.