Thursday, February 15, 2018

Gieo Quẻ Chứng Khoáng Đầu Năm Mậu Tuất


Năm Tuất, chó giữ nhà nên mua cổ phiếu các công ty Quốc Phòng.

Mậu là Thổ, đào đất có kim loại nên mua vàng hay cổ phiếu của các công ty quặng mỏ.

Nhưng mùa hè nóng như lửa khiến Kim bị Hỏa đốt chảy, nên coi chừng thị trường chứng khoáng sẽ “meltdown” vào giữa năm. Dù vậy đến cuối năm thị trường sẽ bốc trở lại.

(Bài này viết theo chiêm tinh gia Hồng Kông Alec So của hảng tin Bloomberg.
https://www.bloomberg.com/news/audio/2018-02-14/feng-shui-for-the-year-of-the-earth-dog-clsa)

Tuesday, January 23, 2018

Áp dụng mô hình Trung Quốc vào các nước đang mở mang

 “Tại Đại hội toàn quốc lần thứ 19 của đảng Cộng sản hồi tháng 10 vừa qua, chủ tịch Tập Cận Bình đã trình bày hệ thống cai trị của Trung Quốc như một hình mẫu để các quốc gia khác mô phỏng theo. Các nhà lãnh đạo muốn “thúc đẩy sự phát triển trong khi vẫn duy trì nền độc lập của mình” nên nhìn vào Trung Quốc như “một lựa chọn mới”, ông Tập nói” [1].

Câu hỏi đặt ra là Trung Quốc phát huy mô hình đó như thế nào ra quốc tế?
Tuy chưa có tài liệu phân tích từng bước chiến lược của Bắc Kinh trong lãnh vực này, nhưng diễn biến tại nhiều nước đang mở mang ở Đông Nam Á, Nam Á, Phi Châu và tại những nước công nghệ ở Âu và Úc Châu cho thấy một kế sách lâu dài đang được định hình.

Nhưng trước hết, thế nào là mô hình Trung Quốc?

Mô hình Trung Quốc có một số đặc điểm chủ yếu, bao gồm chế độ cai trị chuyên chế dựa trên ý niệm về sự ổn định; chính sách công nghiệp và tài chính do nhà nước dẫn dắt; đầu tư lớn vào cơ sở hạ tầng; công nghiệp hóa nông thôn hậu thuẫn bởi nông nghiệp quy mô nhỏ; và sự mở cửa cho thương mại và công nghệ nước ngoài” [2].

Bắc Kinh không áp dụng toàn bộ nhưng chọn lọc vài chủ điểm trong mô hình trên mang ra áp dụng một cách thuần nhất vào các nước đang phát triển như sau:
1.      Chế độ cai trị dựa trên ý niệm về sự ổn định (tức là cộng sản, độc tài hay dân chủ đều o.k. miễn là có nền chính trị ổn định để buôn bán với Trung Quốc).
2.      Chính sách công nghiệp và tài chính do nhà nước dẫn dắt (tức là kinh tế do nhà nước dẫn dắt càng nhiều thì càng thuận lợi cho Trung Quốc thao túng).
3.      Đầu tư lớn vào cơ sở hạ tầng (tức là tạo thuận lợi để Trung Quốc đầu tư vào hạ tầng của mỗi quốc gia trong kế hoạch Nhất Đới Nhất Lộ).
4.      Mở cửa cho thương mại và công nghệ nước ngoài (tức là tạo thuận lợi cho Trung Quốc khai thác tài nguyên và bán hàng tiêu dùng).

Chủ trương của Trung Quốc là không can thiệp chính trị và quân sự nhằm vận động quảng bá cho một ý thức hệ. Nếu diễn giải theo ngôn từ của Tập Cận Bình thì lập trường này trái ngược với Tây Phương vốn quảng bá sự phát triển của nền dân chủ tư do (liberal democracy) qua các tổ chức quốc tế như IMF, World Bank, NATO, và các tổ chức phi chính phủ như Human Rights Watch, Ký giả không biên giới, v.v. khiến nhiều quốc gia mất đi sự độc lập của mình trong đó có các nước Đông Âu, Thổ Nhĩ Kỳ, Iran, Phi Luật Tân (Phillipines), Mã Lai (Malaysia), Thái Lan, Cam-Bốt, Bangladesh, Pakistan… Chỉ khi nào không bị xáo trộn đột ngột về chính trị thì các quốc gia mới có ổn định xã hội để phát triển kinh tế.

Chủ trương nói trên không chỉ nhằm hấp dẫn các nhà độc tài vốn không muốn bị áp lực phải thay đổi, mà còn dựa trên kinh nghiệm quá khứ của chính Trung Quốc qua cuộc Cách Mạng Văn Hóa đẫm máu, và bài học hiện tại từ các cuộc Cách Mạng Hoa Nhài dẫn đến thảm họa nhân đạo ở Syria, Lybia và kinh tế trì trệ ở Ai Cập, Tunesia… Nói một cách khác, Bắc Kinh ngày nay không chống đối nền dân chủ nhưng phản đối việc can thiệp thực hiện nền dân chủ như một mô hình đồng nhất (one size fits all) lên mọi quốc gia mà không quan tâm đến các đặc thù văn hóa, lịch sử và xã hội.

Tiêu biểu cho lập trường này là quan hệ giữa Trung Quốc với Miến Điện: tuy trước đây Bắc Kinh hậu thuẩn cho chế độ quân phiệt, nhưng khi cánh dân chủ thắng thế thì Hoa Lục sẵn sàng làm việc với bà Aung San Suu Kyi để tiếp tục trao đổi mậu dịch. Khi bà Aung San Suu Kyi bị Tây Phương lên án mạnh mẽ vì không bảo vệ cho thiểu số đạo Hồi người Rohinya, Bắc Kinh im lặng thúc đẩy cho một giải pháp giữa Miến và Bangladesh, qua đó nâng cao vai trò của Trung Quốc vào lúc Âu-Mỹ cô lập Naypyidaw.

Nhìn ra tương lai, hiện Trung Quốc đang ủng hộ nhà cầm quyền độc tài tại Venezuala, nhưng nếu Tổng Thống Maduro bị lật đổ thì Bắc Kinh sẵn sàng làm đối tác thương mại lớn nhất để tiếp tục đầu tư và mua dầu từ chính quyền mới.

Tuy nhiên Bắc Kinh sẽ từ bỏ chính sách không can thiệp nếu quyền lợi chiến lược bị xâm phạm, chẳng hạn như Trung Quốc không thể nào chấp nhận cho Bắc Hàn hay Việt Nam thay đổi thể chế. Hoa Lục cũng sẵn sàng dùng quyền lực nhọn (sharp power) theo cách tung tiền chi phối nền chính trị nội bộ của Úc và Tân Tây Lan (New Zealand) nhằm thay đổi lập trường của hai nước này về Biển Đông theo hướng có lợi cho Trung Quốc; hay dùng áp lực kinh tế ra quốc tế nhằm cô lập Đài Loan và Đức Đạt Lai Lạt Ma; hoặc dùng mậu dịch để trừng phạt Na-Uy, Nhật, Nam Hàn và Phi Luật Tân khi có những va chạm về địa chính trị hay nhân quyền.

Một điểm cần quan tâm là sau Chiến Tranh Lạnh nhiều nước tuy độc tài nhưng vẫn phải khoát tấm bình phong dân chủ vì cần giao dịch với Âu-Mỹ. Nhưng chỉ trong hai năm gần đây, Tổng thống Duterte của Phi và Hunsen của Cam Bốt dựa vào chiếc dù thương mại và chi viện của Trung Quốc để không còn dấu giếm mà ra mặt đối kháng với Tây Phương nhằm thẳng tay đàn áp trong nước. Diễn biến tương tự nhưng ở góc độ khác biệt khi Edorgan của Thổ Nhĩ Kỳ, Viktor Orban của Hung Gia Lợi (Hungary) và Duda của Ba Lan chống đối mô hình dân chủ tự do (liberal democracy) của Tây Âu thay vào đó bằng mô hình dân chủ phi tự do (illiberal democracy) mang màu sắc Hồi giáo hay dân tộc chủ nghĩa.

Nói chung là sức mạnh kinh tế của các nước dân chủ không tăng trong khi Trung Quốc nhảy vọt. Lượng hàng hoá sản xuất từ Mỹ chiếm 50% toàn cầu năm 1945, đến nay còn 16% và dự trù chỉ 11% trong khi Hoa Lục sẽ là 30% vào 2050 [3]. Trái với nhận định của những chuyên gia Tây Phương, mô hình phát triển của Trung Quốc (tóm tắt bằng một chữ “sale”) có mãnh lực thu hút tưởng chừng không thể cưỡng lại để các nước đang phát triển có “một lựa chọn mới” nhằm ổn định chính trị và phát triển thành những nền kinh tế chư hầu (satellite economies) trong kế hoạch Nhất Đới Nhất Lộ của Bắc Kinh.

***

[1] [2] Trích nguyên văn từ: http://www.viet-studies.net/kinhte/ChinaSolitaryModel_Bardhan_trans.html – Người dịch: Huỳnh Hoa.

[3] Destined for war: Can America and China Escape Thucydides’s trap? – Tác giả: Graham Allison.

Friday, January 12, 2018

Thất bại của các cuộc cách mạng dân chủ

Trong những năm gần đây, nhiều chế độ độc tài bị lật đổ nhưng rồi các cuộc cách mạng dân chủ tiếp nối lại suy thoái theo những bước như sau:
1.      Thể chế toàn trị bị lật đổ.

2.      Nhà nước mới được bầu lên nhưng không xây dựng được một nền dân chủ lành mạnh, thay vào đó chính quyền trung ương yếu ớt vì nạn chia rẽ và bè phái khiến tham nhũng lan tràn, tình trạng mất an ninh, sự bộc phát của tầng lớp đầu sỏ chính trị và kinh tế (oligarchy) thao túng thị trường và chính trường khiến dân chúng thất vọng.

3.      Phong trào dân túy xuất hiện, đáp ứng nỗi bức xức trong quần chúng nên được đám đông ủng hộ.

4.      Một cuộc bầu cử tự do sau đó lại mang đến kết quả hạn chế nền dân chủ, khi người dân chán ngán với nền dân chủ hư hỏng (failed democracy) nên đặt kì vọng vào thành phần lãnh đạo mới và quyết đoán tái lập trật tự và ổn định.

5.      Giới cầm quyền thắng cử bài trừ tham nhũng, thanh trừng những tập đoàn lợi ích và siết chặt an ninh, sẵn dịp thanh toán các đối thủ chính trị và bè phái thù nghịch nhằm ngăn chặn tiến tình dân chủ hóa, hòng cũng cố địa vị.

Đây là bài học của Nga và Phi Luật Tân, cùng nhiều trường hợp tương tự xảy ra ở Đông Âu, Ai Cập, Thái Lan, Ukraine. Cho nên năm 2017, Tập Cận Bình đề cao mô hình ổn định và phát triển theo kiểu Trung Quốc nhằm thay thế tiến trình dân chủ thất bại vốn được Tây phương khuyến khích.

Một yếu tố quan trọng trong thế kỉ 21 là sự phát triển mạnh mẽ của các mạng xã hội, trở thành mối đe doạ sống còn cho những chế độ độc tài. Nhưng đồng thời mạng xã hội lại khiến việc xây dựng một nền dân chủ phôi thai trở nên vô cùng khó khăn vì quá nhiều tiếng nói bất đồng trong xã hội. Cuối cùng mạng xã hội cũng tạo môi trường rất thuận tiện cho chủ nghĩa dân túy và khuynh hướng cực đoan sinh sôi, nẩy nở.

Khác với thế kỉ 20, những nền độc tài toàn trị ngày nay không còn tự khép kín sau bức màn sắt. Họ đón nhận thế giới bên ngoài nên cần phải tô vẽ bộ mặt chính danh đối với cả quốc tế và trong nước qua nhiều biện pháp khác nhau:

1.      Chuyên chế nhưng mở cánh cửa đầu tư và xuất ngoại (trừ Bắc Hàn và Cuba). Tuy đối lập chính trị bị đàn áp nhưng người dân lại được hưởng nhiều quyền tự do khác so với thế kỉ 20. Dù khuyến khích kinh doanh tư nhân, nhà cầm quyền vẫn nắm giữ các ngành công nghệ chủ lực để kiểm soát nền kinh tế và dùng làm túi tiền riêng.

2.      Giới lãnh đạo rút kinh nghiệm rằng mối đe dọa lớn nhất cho chế độ chính là lúc họ bị bịt mặt bởi đám đàn em nịnh bợ cho nên những nhà độc tài khôn ngoan không còn tin tưởng vào các báo cáo và thống kê chính thức.

3.      Trái lại, họ chấp nhận cho vài tiếng nói phản biện chân chính (trái với đối lập giả hiệu) hoạt động nhưng luân phiên bắt giam số còn lại để phong trào không đủ đông hình thành lực lượng chống đối. Tuy đàn áp nhưng vẫn cần lắng nghe quan điểm đối lập để “bắt mạch” dư luận quần chúng (khi mà cán bộ cấp dưới chỉ báo cáo láo), chủ yếu nhằm đề phòng và sớm giải tỏa các bức xức trước khi tâm lí bất mãn bùng nổ, thổi ra làn sóng chống đối bất ngờ như từng xảy ra ở Ukraine, Tunesia, Ai Cập.

4.      Mục tiêu ngoại giao khi chấp nhận cho những tiếng nói phản biện chân chính tồn tại nhằm tạo tấm bình phong dân chủ ra nước ngoài.

5.      Nhà cầm quyền cho phép vài trí thức phản biện trong Quốc hội (thay vì chỉ toàn nghị gật) để cho thấy giới lãnh đạo không có dốt.

6.      Chế độ toàn trị nhưng phải có vẻ tôn trọng pháp luật vì (a) nay làm ăn với ngoại quốc nên luật pháp cần tỏ ra công minh (b) tăng chính danh với dân chúng trong nước. Cho nên trong nhiều trường hợp, nhà cầm quyền đe dọa và bắt bớ đối lập chính trị nhưng chỉ dựa vào vi phạm hành chính, thuế má, du đãng… thay vì dùng công an hay xét xử theo tội bất đồng chính kiến.

7.      Giải pháp tốt nhất đối với các nhà dân chủ nổi tiếng là áp lực để xuất ngoại vì nhà cầm quyền nhổ được gai nhọn mà không cần dùng đến những biện pháp bị quốc tế và dân chúng lên án.

8.      Trái với thế giới từ sau Thế chiến II, khuynh hướng dân tộc chủ nghĩa hiện đang thổi bùng không những từ Nga, Trung Quốc, Thổ Nhĩ Kỳ mà còn ở cả các nền dân chủ lớn như Hoa Kỳ, Ấn Độ, Nhật Bản, Đông Âu… theo mức độ nhiều ít khác nhau.

Lợi thế của các nền chuyên chế ngày nay nơi họ rút kinh nghiệm từ sự sụp đổ của Liên Xô để né tránh tình trạng độc tài mù quáng. Yếu điểm là họ phải mở xú-páp cho thoát hơi nóng nhưng lại sợ mất quyền kiểm soát làm bung nắp nồì nên đâm ra bị ám ảnh (paranoia) về các thế lực thù địch nào đó rình rập ám hại mà quên rằng chính mô hình toàn trị mới là kẻ thù lớn nhất của chế độ.

Nhiều trường hợp cho thấy những chế độ độc tài tự biện minh bằng ổn định (stability) nhưng lại trở thành trì trệ (stagnation) như ở Nga, Ai Cập. Nhưng cạnh đó có mô hình Trung Quốc với nền kinh tế tăng vọt liên tục trong vòng 30 năm cho nên chưa thể kết luận dứt khoát về tương quan giữa chính trị và phát triển, ít nhất từ trung hạn cho đến ngắn hạn.

Các nhà dân chủ cũng uyển chuyển theo thời thế, dùng quyền tranh cử, kiến nghị và mạng xã hội để tấn công vào tính chính danh của nhà cầm quyền, dựa vào luật pháp để vạch trần những bất cập trong khi thi hành luật pháp (inconsistencies in the application of laws). Hiện độc tài chiếm ưu thế lớn so với đối lập ở Nga, Trung Quốc, Việt Nam… nhưng trò kéo cưa giữa hai bên chưa chấm dứt.

Các nền độc tài của thế kỉ 21 rút kinh nghiệm từ những thất bại trong thế kỉ 20 nên không còn mù quáng tự tôn mà trở nên thận trọng và thâm hiểm hơn trước đây [1]. Tuy không thể nào so sánh nhưng người viết nghĩ rằng những chế độ chuyên chế ngày nay phảng phất mô hình Quốc xã theo kiểu Hitler (và Goebbels) vào đầu thập niên 1930, vừa dụ dỗ vừa đàn áp, thay vì giống Stalin vốn chỉ dựa trên thanh trừng và khủng bố.

Đ.H.Q

 [1] Xin đọc sách The Dictator’s Learning Curve (tạm dịch Các nhà độc tài đang học hỏi) của William Dobson (ký giả tờ Washingtong Post) rút tỉa kinh nghiệm ở Ai Cập, Nga, Trung Quốc, Venezuala v.v…


Wednesday, January 3, 2018

Đầu năm cuối năm lại nói đến Trump

Nếu có một nhân vật làm câu chuyện mở đầu và cuối cùng (Alpha and Omega) của 2017, 2018, 2019, 2020, 2021… thì phải là Trump. Cho dù ông có sẽ bị truất phế hay làm Tổng thống một hay hai nhiệm kỳ thì chắc chắn Trump sẽ không bị quên lãng, cộng theo câu hỏi nhức nhối rằng tại sao dân Mỹ bầu cho Trump?
Câu trả lời rất đơn giản và quen thuộc với mọi người Mỹ gốc Việt: giàu thì sướng, nghèo thì được nhà nước lo từ ăn ở, sức khỏe cho đến con cái đi học, chỉ có giới trung lưu là bị chặt thuế đẹp từ trong paycheck! Nên người trung lưu Hoa Kỳ đã phẫn nộ bỏ phiếu cho một ông tỷ phú thô lỗ và bịp bợm nhưng ít nhất trong thời gian tranh cử dám thọt ngón giữa (stick the finger, tức là chửi Đ.M.) vào mặt giai cấp quyền thế (the power elites) lẫn đám trí thức cấp tiến (the liberals) cùng truyền thông dòng chính (mainstream media)… cho đỡ tức.
Có người phản đối, cho rằng giới trung lưu ở Cali, New York không bỏ phiếu cho Trump. Nhưng nhiều người cho rằng Cali ngày nay không còn là Mỹ nữa khi dường như chỉ còn Việt Nam, Mễ, Đại Hàn, Tàu, Ấn Độ sống tại đó.
Giai cấp trung lưu là cột trụ của nền dân chủ. Giới trung lưu đi bỏ phiếu đông nhất và khơi mào cho những cuộc tranh đấu làm thay đổi nước Mỹ tận gốc rễ như quyền bình đẳng màu da, bình đẳng nam nữ, cùng vai trò của Hoa Kỳ từ sau Thế Chiến Thứ Hai. Cho nên không lấy làm lạ khi giới trung lưu bị moi rỗng ruột (the hollowing out of the middle class) thì nền dân chủ Hoa Kỳ cũng bị lung lay: tựu trung vì hai chuyện thuế má và công ăn việc làm.
Một thực tế xã hội là nhà giàu dùng mánh khóe và quyền lực để không trả thuế [*], còn người nghèo không có tiền trả thuế. Giới trung lưu ăn học nhiều nên dễ bị dụ chia thành hai phe cãi nhau: (1) Cánh bảo thủ đòi giảm thuế cho tư bản; (2) Phe cấp tiến đòi tăng thuế cho các chương trình xã hội. Nhưng dù tăng hay giảm thì chỉ có giới trung lưu è cổ trả tiền: một đại công ty được miễn thuế 1 tỷ USD, hay 2000 người nghèo lãnh mỗi người 500 ngàn USD trợ cấp nếu tính cả ăn ở, nuôi và giáo dục con cái, y tế, bệnh viện, mỗ xẻ v.v.. thì phải có người bù đắp vào lỗ trống đó. Giới trung lưu giỏi lý luận, đi bầu và… trả tiền, nhưng không có người đại diện, trong khi tư bản đầy quyền lực (the power elites), còn nhà nghèo thì được thành phần trí thức cấp tiến (the liberals) bênh vực. Trump gọi đây là nền chính trị dàn dựng (the system is rigged). Cho nên sự phẫn nộ nơi lá phiếu cho Trump khác hẳn với phong trào đấu tranh giai cấp vào thế kỷ 19-20 như một hiện tượng xã hội mới của các nền dân chủ Tây Phương trong thế kỷ 21.
Hai cánh Tân Bảo Thủ (neo-conservatism) và Tự Do Cấp Tiến (liberalism) lại đồng quan điểm muốn nước Mỹ làm sen đầm quốc tế (world police) bảo vệ và phát huy cho nền thương mại và tự do toàn cầu (globalization). Hoa Kỳ dàn dựng WTO, tốn kém 1500-4000 tỷ USD (tùy theo cách tính) cho chiến trường Trung Đông, nhưng dân chúng mất tinh thần khi thấy Trung Quốc ngày thêm phát triển và có thể qua mặt Mỹ trong 10-20 năm tới đây. Dân chủ và tiến bộ toàn cầu chỉ là bánh vẽ khi công nhân Hoa Kỳ trong các ngành thép, than đá, xe hơi, điện tử, v.v. mất việc hàng chục năm, hay ngay cả những chuyên viên trên 50 tuổi không hy vọng tìm ra việc làm khác tương xứng. Thôi thì mạnh nước nào lo chuyện của mình trước đã – America First.
Điều cuối cùng khiến dân chúng nổi nóng khi đảng Dân Chủ trước đây bênh vực cho quyền lợi công nhân nay quay sang cổ võ cho dân di cư, đồng tính, phá thai và người nghèo không chịu đi làm để… kiếm phiếu. Cho nên một ông Tổng thống thô lỗ như Trump lại trở thành đầu đàn cho cuộc chiến tranh văn hóa (cultural war) đả phá thành phần Tự Do Cấp Tiến và truyền thông dòng chính. Tư cách và các phát ngôn ngợm nghĩnh của Trump mang đầy tính toán chính trị (by design) thể hiện thái độ phản kháng (f.y., fuck you hay là Đ.M. mày) chống lại lề lối chính trị xuôi chiều (political correctness) trong xã hội.
Câu chuyện không phải chỉ riêng cho người Mỹ trắng mà lan cả vào bàn ăn của nhiều gia đình gốc Việt: ông già nói chuyện chống Cộng (nhưng chẳng ai để ý); bà già dùng tiền trợ cấp xã hội để gởi về Việt Nam giúp thân nhân; con cái đi làm trả thuế, chi tiền cho mẹ về thăm nhà dù chia hai phe bênh hay ghét Trump; bà con từ Việt Nam ngày càng nhiều tiền gởi con du học, đi du lịch và kinh doanh mua nhà tìm cách định cư sang Mỹ.
Cả thế giới mong rằng sau Trump nước Mỹ sẽ trở lại như cũ để lo chuyện bao đồng thiên hạ. Nhưng Trump đã làm bùng dậy làn sóng phẫn nộ mà trước đây cả cánh hữu lẫn tả đều không ngờ đến. Tiếng nói mạnh nhất trong chính trường Mỹ ngày nay ngoài Trump là của Bernie Sander thuộc cánh tả hạng nặng. Ông này như tấm gương chiếu ngược với Trump nhưng đồng thời vẫn chống toàn cầu hóa và can thiệp toàn cầu nhằm bảo vệ quyền lợi cho công nhân Hoa Kỳ.
Thử xem con tạo xoay vần đến đâu.
***
[*] Với mỗi sắc thuế mới thì nhà giàu dùng tiền áp lực lên các chính trị gia viết ra luật thuế, rồi sau đó thuê luật sư, kế toán viên để tránh thuế; còn người nghèo tất nhiên được miễn thuế.


Saturday, December 23, 2017

Chỉ là kinh tế, đồ khờ! (It’s the economy, stupid)

Người Việt sống tại Hoa Kỳ thường nói nghèo ở Mỹ cũng được nhà nước lo đầy đủ hơn cả chục triệu người Việt Nam. Tuy đúng nhưng chỉ có điều dân Mỹ chẳng ai so đo với Việt Nam (chỉ trừ Mỹ gốc Việt) trong khi người Việt thì so sánh với cả trong nước lẫn hải ngoại!

Câu hỏi đặt ra tại sao Hoa Kỳ năm 2016 kinh tế đã hồi phục từ sau khủng hoảng 2007-08, thị trường chứng khoán và địa ốc tăng trưởng mạnh, chỉ số thất nghiệp rơi xuống con số rất thấp – dưới 5%, nhưng dân chúng phẫn nộ, xã hội bị phân hóa trầm trọng với kết cục bầu lên Tổng thống Trump? Trong khi đó tại Việt Nam lợi tức đầu người chỉ khoảng 1/20 bên Mỹ, các vụ lớn như Formosa, Tiên Lãng, BOT Cai Lậy… khiến nhiều người vô cùng bức xúc, nhưng không dẫn đến một phong trào phản kháng nóng bỏng như ở Mỹ?

Lý do chính vì không có bầu cử tự do và vì sự theo dõi kềm kẹp của công an Việt Nam. Nhưng bên cạnh đó còn thêm một yếu tố quan trọng không kém, chính là nguyên nhân kinh tế, đồ khờ! (Câu này dịch từ châm ngôn bất hủ It’s the economy, stupid vốn đã giúp ứng cử viên Bill Clinton đắc cử năm 1992 vào chức vụ Tổng thống).

Cụ thể, thống kê của Pew Research Center cho thấy Việt Nam đứng đầu bảng với 88% dân chúng hài lòng về cuộc sống của họ hiện giờ khá hơn 50 năm trước, trong lúc tại Hoa Kỳ chỉ có 37% mang tâm trạng lạc quan về nước Mỹ [1]. Hơn thế nhiều nước dưới ngưỡng 40% gồm Brazil, Pháp, Hy Lạp, Ý, Argentina đều trải qua biến động chính trị trong vài năm vừa qua.

Việt Nam ngày nay không còn bị dội bom, pháo kích, đắp mô, giựt mìn sập cầu… Nhiều người khắc khe phê phán tăng trưởng kinh tế Việt Nam chỉ mang lại tầng lớp tư bản đỏ và tăng khoảng cách chênh lệch giàu nghèo giữa dân chúng thành thị với công nhân và nông dân. Tuy nhiên không thể phủ nhận là điện nước, đường tráng nhựa đã vào đến nông thôn, còn công nhân nào cũng có điện thoại cầm tay (nhiều khi còn là iPhone đời mới).

Quan trọng hơn cả là tầng lớp trung lưu thành thị: giá nhà tăng vọt như tiền trên trời rớt xuống giờ đây ngang bằng với Cali, Paris, Hồng Kông, Sydney, v.v. Con cái đi du học nước ngoài ngày thêm đông. Người có tiền đi du lịch sang Âu-Mỹ, còn ít tiền thì được thân nhân bảo lãnh đi du lịch ra nước ngoài.

Xã hội Việt Nam (và các nước Đông Nam Á nói chung) vô cùng năng động: dân chúng nhanh chóng du nhập AirBnB, Uber và kiếm thêm tiền từ giao đồ ăn đến tận nhà cho đến hãng hàng không tư nhân, Bitcoin. Cho nên dù tham nhũng và hành chánh rườm rà nhưng vẫn là thị trường thu hút đầu tư nước ngoài.

Người Việt sống tại Âu-Mỹ trong 40 năm qua không hề trải nghiệm kinh tế tăng trưởng 6-7% nên khó hình dung mức sôi động trong xã hội, nhưng có thể tưởng tượng nếu bạn đang sống ở Thung lũng Điện tử Silicon Valley: mỗi lần nhảy việc là lương tăng vọt; hên thì gặp trúng cơ hội start-up thành triệu phú cả chục lần (multi-millionaire) chỉ vài năm; nhà cửa mỗi năm tăng 20-30% nên tài sản lớn là chuyện thường tình. Tuy khổ cực vất vả nhưng người tài vẫn dồn về Silicon Valley, chỉ còn lại những ai không bắt kịp thời cuộc đâm ra bất mãn chua chát.

Tại Mỹ, hàng chục triệu nhân viên các ngành luyện thép, hầm than, dệt may, sản xuất xe hơi, v.v. có thể bị thất nghiệp 10, 20 năm nhưng không hy vọng tìm ra việc làm mới tương đương. Ngay cả những ngành hái ra tiền như kỹ sư cũng lo sợ sau 50 tuổi sẽ bị đào thải. Cho nên lần đầu tiên từ ngày lập quốc Hoa Kỳ nhiều người dân Mỹ không tin rằng thế hệ con cháu họ sẽ khấm khá hơn ngày hôm nay.

Dân chúng thường không quên quá khứ nhưng quan tâm đến hiện tại nhiều hơn. Hoa Kỳ thoát khỏi trận Đại Suy Thoái 2007-08 dưới thời Obama, nhưng cử tri nổi giận thì bỏ phiếu cho Trump (thay vì bà Clinton). Dân Việt còn nhớ nguồn gốc của chiến tranh, nền kinh tế tập trung và chế độ bao cấp nhưng hiện đời sống đang khá lên thì không ai muốn đòi thay đổi ồ ạt vì cứ xem gương của Ai Cập hay Tunisia thì biết .

Trở về Á Châu, nhiều chính quyền độc tài ở Nam Hàn, Indonesia, Argentina bị sụp đổ từ sau trận khủng hoảng kinh tế 1998. Liệu tham nhũng và nợ xấu tại Việt Nam có sẽ dẫn đến tình trạng suy thoái khi thế giới đi vào chu kỳ khủng hoảng kế tiếp hay không – It’s the economy, stupid.

Đ.H.Q.

[1] http://www.pewglobal.org/2017/12/05/worldwide-people-divided-on-whether-life-today-is-better-than-in-the-past/

Thursday, December 7, 2017

Ảnh hưởng dây chuyền khi ngân hàng phá sản

2018 đánh dấu 10 năm cuộc Đại Suy Thoái tại Mỹ nên đây là dịp để tìm hiểu tại sao khủng hoảng ngân hàng lại nhanh chóng ảnh hưởng dây chuyền và tràn lan ra toàn bộ nền kinh tế. Việc này càng hợp thời vào lúc nhà nước Việt Nam vừa thông qua đạo luật cho phép tổ chức tín dụng kiểm soát đặc biệt được phá sản.

Thực tế là tâm trạng hoang mang khiến khủng hoảng bắt đầu khi ngân hàng lung lay chớ không đợi đến lúc khai phá sản. Nghịch lý nơi chổ trước đây không có luật phá sản nhưng ai cũng hiểu ngầm nhà nước sẽ gánh toàn bộ nợ xấu thì người gởi tiền ký thác tuy lo mà không hốt hoảng, nhưng đến khi nhà nước cho biết sẽ không còn làm chủ cái nửa – dù vì hết khả năng bao thầu hay do muốn trao quyết định cho thị trường tự do, khi đó tâm lý quần chúng mới dao động và tác động lên thị trường. Người Mỹ gọi đây là behavioural economics, nghe tuy có vẻ chuyên môn nhưng hợp tình hợp lý.

Khi một ngân hàng bị lung lay thì người ký thác lo rút tiền chớ dại gì đợi đến khi phá sản thì tiền gởi nhiều bị mất hết ngoại trừ con số được nhà nước bảo đảm. Nhưng ngay khi không bị phá sản quá trình tái cơ cấu vẫn đầy bất trắc khiến việc rút tiền có thể trở nên khó khăn, nên ai cũng nghĩ khôn thì rút tiền trước cho chắc ăn.

Ngân hàng đang yếu kém bị người ký thác đòi rút tiền ào ạt nên phải bán nợ và tài sản để thu vốn. Điều trớ trêu nhất là khi đó nợ xấu bán không ai dám mua hoặc chỉ chịu mua với giá rẻ mạt, nên ngân hàng phải bán NỢ TỐT. Điều này khiến giá trị cổ phiếu của các công ty đang vững mạnh bị sút giảm nhanh chóng. Ảnh hưởng lan đến chính các ngân hàng mạnh cũng phải ngừng cho vay và bán nợ tốt để thu vốn phòng bị. Doanh nghiệp không vay mượn được nên không thể khuyếch trương, nhân viên sợ mất việc nên giảm ăn xài. Tâm lý hốt hoảng lan rộng đến mọi giới đầu tư và người tiêu thụ khiến khủng hoảng ngân hàng lan tràn nhanh chóng ra toàn bộ nền kinh tế. Người Mỹ gọi là drive-by-shooting, tức là đang đi ngoài đường gặp hai người đánh nhau mà mình ăn đạn!

Tất nhiên nhà nước cũng dự phòng trường hợp này nên sẽ cố gắng dàn xếp cho ngân hàng mạnh hay ngân hàng nước ngoài mua lại ngân hàng yếu để tránh tình trạng phá sản. Thông thường là thành công nhưng năm 2008 Bộ Tài Chính Mỹ đã không thuyết phục được các ngân hàng mạnh cứu vớt Lehman Brother khiến ngân hàng này bị phá sản mở màn cho cuộc Đại Suy Thoái. Một trong các nguyên do là chính những ngân hàng mạnh chỉ có tiếng bề ngoài chớ bên trong cũng ôm đầy nợ xấu, bên nào cũng đầy rận trong chăn nên chẳng ai giúp ai.


Trên đây chỉ là tóm lược của một quá trình vô cùng phức tạp. Những gì xảy ra tại Hoa Kỳ sẽ không tái diễn y chang ở nước khác, nhưng bài học vẫn có giá trị vì có một yếu tố không thay đổi dù ở mọi thời, mọi nơi tức là tâm lý quần chúng.

Tuesday, November 28, 2017

Thế mạnh kinh tế Trung Quốc

Đồ Nhật trong thập niên 50-60 giống như xe hơi và điện thoại của Nam Hàn vào thập niên 80-90 bị xem là hàng nhái và rẻ tiền. Nhưng đến nay “made in Japan” đồng nghĩa với bền, đẹp và chất lượng trong khi các công ty Samsung, Hundai đã tiến lên ngang hàng với Apple, Toyota và vượt xa Nokia, Peugeot…

Trung Quốc tự tin rằng họ đủ khả năng đi theo bước chân các con rồng Đông Á. Chẳng những thế, khi nền kinh tế Nhật-Hàn trưởng thành nhưng vì dân số giới hạn nên chỉ nhắm vào giá trị gia tăng, trái lại Hoa Lục có 1.5 tỷ người để vét sạch từ thượng vàng đến hạ cám. Nói cách khác, nền kinh tế Trung Quốc đủ nhân lực sản xuất hàng hóa từ chất lượng cao bán sang Âu-Mỹ cho đến đồ dởm, hàng giả và độc hại đổ sang Việt Nam, Lào, Cam Bốt, Phi Châu, Nam Á…

Trong lúc Hoa Kỳ bận rộn tốn kém 1500 tỷ USD cho “trật tự thế giới” ở Trung Đông thì tivi, xe gắn máy, điện thoại từ Trung Quốc lặng lẽ tràn ngập Iraq, Syria, Afghanistan cả trong chiến tranh lẫn giai đoạn tái thiết. Gần đây nhất nhà độc tài Mugabe vốn thân thiết với Bắc Kinh bị lật đổ nhưng người viết tin rằng nền kinh tế Zimbabwe sẽ không vì thế chuyển hướng sang Tây Phương: thứ nhất do giai đoạn khủng hoảng chính trị sắp tới tạo thêm cơ hội để Trung Quốc mua bán quyền lực, thứ hai vì dân chúng chuộng hàng rẻ, thứ ba nhận tiền từ Bắc Kinh không phải kèm theo các điều kiện rắc rối về dân chủ nhân quyền.

Đôi khi Hoa Lục gặp chống đối từ phía quần chúng như ở Miến Điện – Phi Châu, hay bị mất vốn đầu tư dầu hỏa sau cách mạng Lybia. Nhưng những trở ngại này chỉ tạm thời rồi sau đó thương mại một chiều tiếp tục phát triển mạnh. Điều Tây Phương không nhận ra là dân chúng các nước kém mở mang ưa chuộng tiêu thụ hơn là dân chủ, nên những nhà độc tài và hậu độc tài tại Phi, Miến, Thái, Lào, Cam Bốt chuyển trục sang Bắc Kinh ngày càng nhiều mà không bị sự chống đối rầm rộ của quần chúng. Chẳng ai ưa Trung Quốc nhưng dại gì chê tiền và hàng hóa rẻ!

Báo chí Tây Phương phê bình Trung Quốc đi đến đâu mang theo công nhân sang đó nên không tạo công ăn việc làm cho người bản xứ. Nhưng hai khía cạnh ít được nhắc đến: (1) trước đây các nước thực dân Âu Châu cũng đem dân sang sinh sống tại những quốc gia thuộc địa nhưng chỉ để làm chủ vì ít người; nay Trung Quốc xuất cảng cả thầy lẫn thợ nhờ dân đông: nhiều thanh niên người Hoa sang Phi Châu làm việc vài năm để dành tiền trở về quê cưới vợ, có người lại mang cả gia đình trở ra nước ngoài làm ăn vì có nhiều cơ hội buôn bán hơn tại Trung Quốc; (2) người Hoa ăn ít làm nhiều (sau buổi cơm chiều họ trở lại làm việc đến khuya) trong khi dân bản xứ ăn nhiều làm ít (5 giờ chiều là ngong ngóng về nhà) nên thuần túy trên phương diện thương mại xí nghiệp nào cũng muốn đem theo công nhân Trung Quốc.

Một lợi thế lớn khác khi người gốc Hoa có mặt ở Hoa Kỳ, Âu Châu, Nam Mỹ và Đông Nam Á từ hàng trăm năm nay nhưng vẫn giữ được ngôn ngữ của họ. Người gốc Hoa tốt nghiệp từ những đại học giỏi nhất, thành công suất sắc về nghiên cứu, kỹ thuật và trên thương trường. Đa số không thích nền chính trị Trung Quốc nhưng làm việc lương cao, cơ hội thăng tiến nhiều và đồ ăn hợp khẩu vị nên vẫn có một số người hợp tác. Một số đông khác tuy sống tại Hoa Kỳ, Âu Châu, Canada, Úc, Nam Mỹ nhưng móc nối làm ăn với người Hoa ở Trung Quốc, Đài Loan, Mã Lai, Thái Lan, Việt Nam để xây chợ, hướng dẫn đầu tư địa ốc, du học, du lịch, di dân và rửa tiền. Nhờ người đi trước dẫn đường nên tiền bạc từ Trung Quốc thâm nhập sâu và rộng hơn ảnh hưởng của Tây Phương ra khắp thế giới.

Gần đây các công ty Trung Quốc đầu tư vào Hollywood: nhiều phim do tài tử danh tiếng như Tom Cruise hay Matt Demon do Alibaba, Hua-Hua bỏ vốn (xin để ý xem phần đầu phim thì sẽ thấy). Victoria Secret cũng vừa mở một cuộc trình diễn áo sexy lộng lẫy tại Thượng Hải. Những nhà vẽ kiểu thời trang, điện ảnh, kinh doanh, tài chánh quốc tế ngày càng chú trọng đến thị trường Hoa Lục nên không lạ nếu trong vòng 10, 20 năm nữa Thượng Hải sẽ trở thành một trung tâm tài chánh và văn hóa ngang hàng với New York, Paris, London trên mọi phương diện.

Người Việt xem hàng Trung Quốc là đồ dỡm, hàng nhái. Ngược lại các kỹ nghệ gia hàng đầu khắp thế giới đều không dám xem thường mà lại đánh giá Hoa Lục sẽ bắt kịp, ngang hàng hay qua mặt Âu-Mỹ trong các ngành công nghiệp mũi nhọn như Thông minh nhân tạo (Artificial Intelligence), Năng lượng tái tạo (Renewable Energy) và Siêu máy tính (Supercomputer). Những công ty Alibaba, Baidu, Tencent chạy theo sát nút Amazon, Facebook, Google về cả tính năng động lẫn doanh thu và giá trị cổ phiếu như những con gà đẻ trứng vàng cho nền kinh tế Trung Quốc. Hảng điện thoại Huawei đã tiến lên hàng thứ 3 và ngấp nghé chờ Apple hay Samsung vấp phạm lỗi lầm để chiếm hàng thứ 1 như các công ty Motorola, Nokia, Blackberry từng bị giết chết trước đây.

Made in China gồm đồ giả, hàng ăn cắp, nhưng muốn ăn cắp cũng phải có … trình độ! Kỹ sư Trung Quốc sao chép kiểu mẫu xe hơi, hỏa tiễn, máy bay, tàu chiến, máy tính, xe lửa điện, lò nguyên tử… vì họ đủ căn bản thực dụng về kỹ thuật (tuy không hạng nhất nhưng đủ xài), siêng năng và đói ăn (dịch cụm từ hungry của Silicon Valley tức tham lam, năng động và sáng tạo chớ không phải thiếu ăn). Đây là chưa kể đến những lãnh vực không sáng tạo kỹ thuật nhưng cần nhiều khả năng chuyên môn về quản trị (management), tiếp thị (marketing), hạ tầng (logistic)… vô cùng phức tạp ở những đại công ty tầm vóc như Alibaba, Huawei, ZTE. Trong khi đó người Mỹ bản xứ ít chịu lên đại học, hay đi học thì theo các ngành luật, nghệ thuật, báo chí mong dùng mồm miệng đỡ tay chân thay vì chịu khó học toán.

Mỹ-Trung phải đối diện với hai vấn nạn giống nhau (1) một số đông dân chúng sẽ về hưu (2) khoảng cách giàu nghèo giữa các đô thị ven biển và vùng sâu nội địa tăng vọt tạo ra bất mãn. Nhưng tại Hoa Kỳ đa số người sắp hưu trí trước đây để dành tiền quá trễ nên nay chỉ còn cách bỏ phiếu đòi nhà nước tăng trợ cấp, còn những người mất việc trong nội địa thà lãnh tiền thất nghiệp còn hơn đi làm với đồng lương tối thiểu. Cho nên Mỹ núi nợ ngập đầu mà không đại diện dân nào dám đề nghị cắt giảm chi tiêu. Trái lại tại Trung Quốc về hưu trợ cấp ít nên dân chúng từ lâu quen để dành tiền; ở nông thôn không có việc làm thì di cư ra thành phố làm việc chấp nhận đồng lương rẻ mạt. Chỉ cần Bắc Kinh ngăn được bạo loạn không bùng nổ thì Trung Quốc sẽ tiếp tục phát triển kinh tế theo kiểu thượng vàng (với lớp chuyên gia thành thị) hạ cám (bằng đám công nhân rẻ mạt từ nông thôn) – cho đến nay không có dấu hiệu nào cho thấy Đảng Cộng sản TH mất khả năng kiểm soát.

Hai nước Nhật-Hàn lệ thuộc lâu dài vào xuất cảng vì ít dân nên thị trường tiêu thụ nội địa không đủ lớn. Trung Quốc tiêu thụ nội địa hiện chỉ 40% GDP (so với Âu-Mỹ từ 60-70%) nên đang muốn chuyển hướng tránh lệ thuộc vào nước ngoài. Quá trình này gian nan như con cua đang lột vỏ, nhất là khi núi nợ lên đến 300% GDP, nền kinh tế Hoa Lục có thể bị mất trớn (slow growth) hay sụp ổ gà (khủng hoảng) nhưng khó lọt hố (abyss). Tiềm năng sản xuất và tiêu thụ của Trung Quốc còn rất lớn cho nên doanh nghiệp nước ngoài vẫn thèm thuồng nhảy vào cho dù đã nhiều lần ôm đầu máu rút lui hay bị chèn ép phải trao kiến thức kỹ thuật, đúng như Lenin đã nhận xét: tư bản sẳn sàng bán sợi dây thừng treo cổ họ nếu có lợi. Tập Cận Bình chỉ cần làm vài việc: (1) giữ cho dân Tàu đừng nổi loạn; (2) tạo cơ hội cho các tập đoàn thuộc diện con gà đẻ trứng vàng tăng trưởng nhưng không cho đè bẹp và giết chết tính cạnh tranh của những công ty nhỏ đang lên; (3) siết dần tín dụng nhưng không quá nhanh khiến các tập đoàn nhà nước con cưng, quan chức địa phương và thị trường địa ốc sụp đổ; (4) tiếp tục khuyến khích dân Tàu lo làm giàu mà quên đi dân chủ, nhân quyền. Đòi hỏi chứa đầy nghịch lý nhưng nếu ông Tập thành công đưa GDP Trung Quốc lên hàng số 1 có lẽ các chuyên gia Tây Phương phải moi óc xét lại tại sao lý thuyết kinh tế không dự đoán được thực tế. Người viết đồng ý với quan điểm của cựu Cố Vấn Chiến Lược Steve Bannon (người bị Tổng Thống Donald Trump đuổi ra khỏi Tòa Bạch Ốc cách đây không lâu) cho rằng 5 năm tới sẽ quyết định cho cuộc tranh hùng Mỹ-Trung trong thế kỷ 21 vì sau đó sẽ quá trể để Hoa Kỳ ngăn chận đà tiến của Bắc Kinh thành siêu cường hạng nhất 10-15 năm sau đó.


Điều đáng quan tâm là Bắc Kinh tuy khuyến khích cạnh tranh giữa các tập đoàn trong nước nhưng sẽ ngăn trở năng lực cạnh tranh tại các nước ở Đông Nam Á, Nam Á và Phi Châu để biến những quốc gia này thành nền kinh tế chư hầu cho Trung Quốc – với sự đồng lõa của các nhà cầm quyền trong mỗi nước