Monday, March 30, 2020

Mất cân bằng trong kinh tế toàn cầu: đô la và độc vật Vũ Hán (Bài 18)


Quốc Hội và Hành Pháp Hoa Kỳ thông qua một gói cứu trợ khẩn cấp 2 ngàn tỷ USD (10% GDP Mỹ) vào tuần rồi. Cộng thêm vào các biện pháp cấp thời của Ngân Hàng Trung Ương nhằm ổn định thị trường USD thì tổng số đã lên đến 4 ngàn tỷ USD kể từ ngày ôn dịch Vũ Hán bùng phát hồi đầu tháng 03/2020.

Câu hỏi đầu tiên là tiền đâu khi Mỹ đang gánh nợ như chúa chổm chớ không phải rủng rỉnh dư thừa tiền bạc? Câu trả lời – mà người viết thú thật không biết cách nào giải thích trọn vẹn cho nghịch lý này – nơi Hoa Kỳ là nước duy nhất phát hành nợ rồi lại in tiền thu mua nợ, vậy mà thế giới không ai chê đô-la Mỹ.

Nếu nhà nước Việt Nam in tiền thì dân chúng sẽ “chê” VND khiến đồng bạc mất giá và lạm phát tăng nhanh. Trái lại Hoa Kỳ từ 2008 đến nay in thêm không biết bao nhiêu ngàn tỷ USD thế mà đô-la Mỹ lại lên giá, lạm phát trong nước tiếp tục dưới ngưỡng 2% trong khi lãi xuất nợ công xuống gần 0% tức là thế giới năng nỉ cho Hoa Kỳ vay nợ không lấy lời! Nói cách khác chẳng ai chê đô-la Mỹ.

Nợ công của Mỹ được xem là nơi dự trữ tiền an toàn nhất thế giới, lý do thường được mang ra giải thích vì chính phủ Hoa Kỳ có quyền tăng thuế để trả nợ. Nhưng năm nào nhà nước Mỹ dù thu thuế mà vẫn lạm chi (deficit) thì đừng nói gì đến trả nợ! Chính quyền có quyền tăng thuế nhưng lãi xuất thấp gần 0% tức là thế giới sẳn sàng cho mượn tiền không lời để tiêu xài và thúc đẩy kinh tế dại gì không mượn?

Quốc Hội và Hành Pháp tung gói cứu trợ 2 ngàn tỷ USD tức là nhà nước Mỹ sẽ mượn thêm 2 ngàn tỷ USD nợ. Ai sẽ cho vay 2 ngàn tỷ USD nợ này? Trước đây Trung Quốc và các nước Đông Nam Á thặng dự nhờ xuất cảng, Trung Đông và Nga nhờ bán dầu hỏa nhưng nay các nguồn cầu đều cạn kiệt còn ai có tiền mua nợ công? Nếu ít người mua thì lãi xuất nợ công Hoa Kỳ lẽ ra phải tăng nhưng ngược lại không tăng tức là vẫn còn người cho vay nợ, phần khác do Ngân Hàng Trung Ương Hoa Kỳ sẵn sàng mua lại nợ công khi các nhà đầu tư cần bán; nói cách khác tay trái phát hành nợ trong khi tay phải in tiền thu mua nợ làm ảo thuật bơm 2 ngàn tỷ USD vào kinh tế nhưng đô-la không hề mất giá.

Ai không muốn USD thì có thể đổi sang dùng Euro, Yen hay tiền Thụy Sĩ. Nhưng lưu lượng của Yen và tiền Thụy Sĩ quá ít để đáp ứng nhu cầu thương mại toàn cầu. Còn lại đồng Euro chưa biết khi nào sụp đổ giả sử Ý và Tây Ban Nha vỡ nợ vì ôn dịch Vũ Hán. Đổi sang dùng đồng Nhân Dân Tệ (NDT) thì phải chịu sự giám sát mờ ám của đảng Cộng Sản Trung Quốc trong lúc chính Bắc Kinh cũng e mất kiểm soát một khi vai trò của NDT tăng quá nhanh trên thị trường quốc tế. Rốt cục trong đám mù kẻ chột làm vua, Mỹ in tiền rãi ngập toàn cầu vậy mà thế giới vẫn đòi có thêm đô-la (liquidity problem) để tích trữ hay dùng trao đổi hàng hóa.

Dù vậy phù phép USD cũng không thể kéo dài mãi mãi dưới ánh sáng mặt trời. Một ngày nào đó thế giới sẽ bừng tỉnh nhận ra rằng đô-la Mỹ chỉ là tiền hơi lúc đó sự thống trị của USD chấm dứt và kỷ nguyên hậu Hoa Kỳ (post American world) bắt đầu. Nước Mỹ sẽ rơi vào lạm phát phi mã (hyper-inflation) hay lạm phát trong khi thất nghiệp cao (stagflation). Chỉ có điều rất nhiều chuyên viên từng tiên đoán việc này hàng chục năm trước đây nhưng đều sai trật vì USD ngày càng mạnh, cho nên người viết cũng không dám đoán trước do sợ bị lầm lẫn. Giả sử trong trường hợp xấu nhất độc vật Vũ Hán khiến thất nghiệp tại Mỹ tăng lên 20-30% giống như Đại Khủng Hoảng 1929 thì Hoa Kỳ có còn là nơi an toàn nhất để gởi tiền hay không? Tuy nhiên ảnh hưởng dây chuyền sẽ lại tác động ngược đến Trung Quốc, Âu Châu, Nhật và các nước Đông Nam Á thì biết đâu được trong đám mù anh chột vẫn làm vua?

Thử xem con tạo xoay vần đến đâu. Có điều nơi đây khác với vần thơ vì là bi kịch hiện thực trả giá bằng hàng triệu công ăn việc làm bị đánh mất với bao nhiêu mảnh đời đổ vỡ.

Thursday, March 19, 2020

Mất cân bằng trong kinh tế toàn cầu: Ngân Hàng Trung Ương và ôn dịch Vũ Hán (Bài 17)


Ngân Hàng Trung Ương Hoa Kỳ (NHTƯ, còn gọi là Quỹ Dự Trữ Liên Bang – Federal Reserve) là một cơ quan độc lập với hai chức năng gồm (1) tạo công ăn việc làm (2) bình ổn giá cả hay là chống lạm phát. Các bài sau sẽ trình bày về sự khác biệt giữa chính sách tiền tệ do NHTƯ đảm trách so với thuế má và ngân sách nhà nước do Hành Pháp và Quốc Hội quy định. Riêng bài này sẽ tìm hiểu tại sao NHTƯ tung khẩn cấp ba tuyệt chiêu trong Giáng Long Thập Bát Chưởng nhưng chỉ đủ để giữ thị trường tiền tệ (USD) đứng loạn choạn thay vì ngã ngửa mà không kềm hảm nổi Độc Vật Vũ Hán tiếp tục phun ra đòn Hàm Mô Công quái ác.

Chiêu thứ nhất hạ lãi xuất xuống 0% lại là chưởng pháp kém nhất. Thông thường NHTƯ tăng lãi xuất để dân chúng và doanh nghiệp bớt tiêu xài lúc kinh tế quá “nóng” nhằm ngăn chận lạm phát, và hạ lãi xuất để thúc đẩy đầu tư và tiêu thụ khi kinh tế bị chậm lại. Do ôn dịch Vũ Hán nên dù lãi xuất cực thấp chẳng ai dám du lịch, mua nhà, mua xe; doanh nghiệp đang sợ bị phá sản thì nói gì đến vay mượn kinh doanh. Trong dài hạn lãi xuất 0% sẽ giúp phục hồi kinh tế nhưng ngay bây giờ thì không có hiệu quả.

Trước khi bàn đến chiêu thứ nhì xin mượn thí dụ tiệm vàng cho dễ hiểu: ai cũng có chút đỉnh vàng phòng khi hữu sự, đến lúc cần tiền mua gạo lại ùng ùng kéo nhau đi bán nên tiệm vàng hết tiền mặt! Phải có ông Trùm phía sau hứa hẹn mua bao nhiêu vàng vào thì ông Trùm sẽ cấp vốn mới không bao giờ thiếu lúc đó tiệm vàng mới dám tiếp tục thu mua để dân chúng có tiền sống cầm hơi.

Ông Trùm không phải là ông Trump nhưng chính là NHTƯ. Các tiệm vàng là những ngân hàng. Khi kinh tế co thắt do ôn dịch Vũ Hán thì ngân hàng tư nhân – cũng giống như mỗi hộ gia đình – co cụm giữ tiền mặt không dám cho vay dù rằng doanh nghiệp bên ngoài cần mượn khẩn cấp để trả hóa đơn, hàng tồn kho và lương công nhân. Không có tiền thì doanh nghiệp sẽ đồng loạt vỡ nợ trong tháng 03. Trước đây ngân hàng chỉ giữ một ít tiền mặt đủ cho giao dịch hàng ngày, phần lớn quỹ dự phòng dùng mua trái phiếu công và tư thuộc loại an toàn nhất để kiếm chút lời. Khi khủng hoảng lên đỉnh điểm thì chẳng còn món nào là an toàn nên ngân hàng thiếu tiền mặt vì không thể đổi trái phiếu ra USD. Do đó NHTƯ tung chưởng pháp thứ nhì là mở cửa nhà máy in bạc (!) hứa sẽ đổi trái phiếu thành USD để ngân hàng cấp thời không thiếu tiền mặt. Chỉ riêng Hoa Kỳ là nước có quyền ưu đãi đặc biệt (exorbitant privilege) mượn nợ bằng USD nên in USD thu hồi trái phiếu mà không sinh ra lạm phát ngày nào thế giới còn cần đến USD.

Chưởng pháp thứ ba là NHTƯ Hoa Kỳ yểm trợ các ngân hàng Âu-Nhật bằng cách mở đuờng những dây hoán chuyển ngoại tệ (swap lines). Âu-Nhật không thiếu tiền Euro và Yen nhưng lại thiếu USD trong khi USD là đơn vị ngoại tệ chính trong các giao dịch quốc tế. NHTƯ Mỹ cam kết sẽ đổi tiền Euro và Yen ra USD để các NHTƯ Âu-Nhật có đủ đô-la hổ trợ cho những công ty trong nước họ. Do vậy NHTƯ Hoa Kỳ trở thành NHTƯ toàn cầu! Lần lượt đến phiên các NHTƯ Âu-Nhật lại mở những đường dây hoán chuyển tương tự đến những nước thứ 3.

Cả 3 tuyệt chiêu nói trên chỉ ở thế thủ nhằm giúp thị trường tiền tệ (USD) tạm ổn định nhưng không đủ để cứu cấp nền kinh tế và thị trường chứng khoáng tiếp tục tuột dốc thảm hại. Biện pháp kế tiếp có thể là NHTƯ Hoa Kỳ trực tiếp cho những công ty có tầm quan trọng chiến lược vay mượn để sống còn như đã từng làm với đại công ty bảo hiểm AIG năm 2008. Sau đó đến lượt Hành Pháp và Quốc Hội nhảy vào cuộc với các gói kích cầu khổng lồ chưa từng thấy, vài ngàn tỷ USD chỉ cần một cái nhấp chuột! Đó là đề tài của bài sau.

Monday, March 16, 2020

Mất cân bằng trong kinh tế toàn cầu: nhà nước, đại dịch Vũ Hán và khủng hoảng nợ công lẫn tư (Bài 16)


Đại dịch phát sinh từ Vũ Hán gây nên một cơn chấn động lan tỏa khắp hành tinh: dân chúng trên thế giới hạn chế du lịch, nhà hàng và tụ họp giải trí đông người; công xưởng toàn cầu Trung Quốc dần phục hồi chậm chạp do sợ dịch tái bùng phát, trong khi doanh nghiệp Âu Châu và cả Hoa Kỳ có nguy cơ bị tê liệt trong một vài tháng tới đây; dầu thô phá giá từ 60 USD xuống còn 30 USD một thùng chỉ trong vòng 30 ngày; thị trường chứng khoáng tụt dốc thảm hại. Chuổi cung cầu cùng lúc sụp đổ đè nặng lên khả năng thanh toán nợ công lẫn nợ tư trên toàn thế giới, dẫn đến triển vọng suy thoái toàn cầu trong năm 2020-21.

Từ sau cuộc Đại Suy Thoái 2007-08 do nhiều Ngân Hàng Trung Ương tung ra những gói kích cầu khổng lồ khiến thế giới ngập lụt tiền! Tổng số nợ trên hành tinh tăng vọt lên đến 257 ngàn tỷ USD tức là 3.2x GDP toàn cầu, đó là chưa kể đến những chi phí tức thời bởi đại dịch Vũ Hán gây ra. Vì các Ngân Hàng Trung Ương giữ lãi xuất thấp nên tiền dồn vào những chổ có rủi ro cao (risk assets) để kiếm lời, nay cơn đại dịch Vũ Hán cắt giảm thu nhập của các đầu tư bấp bênh này nên có thể châm ngòi nổ làm sụp đổ thị trường tín dụng kéo theo sự suy thoái của nhiều nền kinh tế trên thế giới.

Trong tổng số 257 ngàn tỷ USD nợ trên hành tinh thì nợ công hiện chiếm 70 ngàn tỷ USD với Mỹ-Trung dẫn đầu. Nợ nước ngoài của các quốc gia đang phát triển tăng đến mức 8.3 ngàn tỷ USD. Kinh tế đình trệ do đại dịch Vũ Hán khiến nợ công của nhiều quốc gia nhảy vọt khi thuế thu vào giảm mạnh trong khi nhà nước lại phải tung thêm nhiều gói hổ trợ mới. Trong số các nước thì Hoa Kỳ vẫn có thể in thêm đô-la chi dùng; Trung Quốc còn quỹ dự trữ trên 3 ngàn tỷ USD; Đức-Nhật lệ thuộc vào xuất khẩu nên sẽ rơi vào suy thoái nhưng vẫn còn mượn được tiền. Ngược lại Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hy Lạp, Iran, Venezuala, Argentina vốn đã chao đão trước đại dịch Vũ Hán rồi đây còn thảm hại hơn nửa. Thị trường xuất khẩu của những nước đang mở mang như Việt Nam có nguy cơ giảm mạnh cùng lúc với ngành du lịch và nhu cầu tiêu thụ trong nước sụp đổ, cộng thêm dòng tiền từ nước ngoài gởi về cạn kiệt. Xăng dầu hạ giá nhưng chẳng ai muốn ra khỏi nhà. Dù thiếu hụt nhưng nợ vẫn đòi, trước đây còn trông cậy vào IMF hay Mỹ-Trung nâng đở nhưng nay khủng hoảng lan tràn toàn thế giới, chính Hoa Kỳ và Hoa Lục đều thành nạn nhân nên không còn nhiều khả năng giúp đỡ như trước.

Bài học 1998 cho thấy khủng hoảng tín dụng tại các nước đang phát triễn lây lan nhanh chóng không kém gì vi khuẩn Vũ Hán: giả sử Ý, Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha, Hy Lạp, Iran, Venezuala, Argentina vỡ nợ thì dòng tiền sẽ thoái vốn dây chuyền ra khỏi những nước Đông Á, Nam Á và Nam Mỹ chạy về trú ẩn “an toàn” ở Mỹ, Đức và Nhật. Ngay cả Trung Quốc cũng không thoát khỏi tình trạng chảy máu ngoại tệ như từng xảy ra vào năm 2015.


Về phần nợ tư công nhân viên dù tạm nghĩ làm việc do dịch bệnh nhưng vẫn phải trả tiền ăn, tiền nhà và tiền y tế. Nhà hàng vắng khách nhưng vẫn trả tiền thuê chổ. Công ty đình trệ nhưng vẫn phải trả hóa đơn và tiền lương. Trước đây do lãi xuất thấp nên doanh nghiệp dễ dàng mượn tiền nay đến hạn kỳ trả nợ thì doanh thu không có. Tổng số nợ doanh nghiệp ở Âu-Mỹ-Trung-Nhật lên đến 19 ngàn tỷ USD, trong khi nhiều công ty ở các nước đang mở mang như hàng không Việt Nam vay mượn tiền mua máy bay trong thời gian phát triễn. Kỷ nghệ dầu đá phiến ở Mỹ lệ thuộc vào mức giá 40-60 USD để tồn tại, nay dầu chỉ còn trên 30 USD mỗi thùng không khỏi nhiều công ty bị phá sản hàng loạt.

Nhà đầu tư nổi tiếng Warren Buffet từng nói “nước ròng mới biết anh nào tắm ở truồng” (You only find out who is swimming naked when the tide goes out). Kỷ nghệ du lịch, hàng không, dầu hỏa, các công ty nhỏ và vừa, những doanh nghiệp yếu vốn, các quốc gia lệ thuộc vào xuất khẩu, những nước mang nhiều nợ có thể sẽ bị phá sản hàng loạt. Ảnh hưởng dây chuyền sẽ lan đến thị trường nhà đất vì ai nấy cũng giữ tiền mặt không dám mua nhà cho dù lãi xuất cực rẻ.

Ngân hàng là quả tim bơm tiền cho hệ thống tư bản quan trọng như máu chảy trong cơ thể. Ở Trung Quốc ngân hàng cho vay theo mệnh lệnh của Bắc Kinh. Trái lại các ngân hàng Tây Phương thuộc về tư nhân, gặp khủng hoảng thì tự động co rút thủ tiền mặt (giống như mỗi gia đình tư nhân) khiến tín dụng trở nên khan hiếm. Doanh nghiệp không thu nhập lại không thể vay mượn trả hóa đơn và lương bổng hàng tháng nên mang nguy cơ phá sản hàng loạt. Cho nên biện pháp khẩn thiết đầu tiên là các Ngân Hàng Trung Ương Âu-Mỹ hạ thấp lãi xuất và bơm tiền để ngân hàng tư nhân tránh hốt hoảng mà tiếp tục cho vay ngắn hạn.

Nhu cầu cấp thời kế tiếp là tiền đến từng gia đình để trả tiền nhà, nhu yếu phẩm và y tế do công ăn việc làm bị đình trệ. Hồng Kông áp dụng chính sách “Tiền trên trời rớt xuống” (helicopter money) tự động gởi chi phiếu $1300 USD đến mỗi gia đình trong thời gian dịch bệnh. Nhiều biện pháp khẩn cấp khác như yêu cầu chủ nợ và công ty điện nước tạm dừng không đòi tiền hàng tháng; tăng tiền thất nghiệp và y tế giúp công nhân trả tiền nhà, tiền ăn, tiền bác sĩ; trợ cấp khẩn thiết cho nhà hàng, hàng không, du lịch, dầu hỏa sống còn mà không ồ ạt sa thải nhân viên trong một vài tháng tới đây. Các biện pháp này vô cùng tốn kém trong khi thuế thu vào không có, Mỹ-Trung-Đức-Nhật còn xoay sở ra tiền nhưng những nước còn lại không biết vay mượn ở đâu?

Những biện pháp khẩn thiết nói trên chỉ có thể kéo dài 2-3 tháng với hy vọng vi trùng Vũ Hán sẽ chết tiệt vào mùa hè và hoạt động kinh tế dần khôi phục lại. Nhưng nếu dịch bệnh tiếp tục hoành hành khiến dân chúng không dám ra khỏi nhà 6-7 tháng kinh tế thế giới sẽ ra sao?

Không thể nói đến kích thích và phục hồi kinh tế nếu dịch bệnh Vũ Hán chưa bị ngăn chận, việc này lại tùy thuộc nhiều vào giới khoa học và thời tiết nhiều hơn là nhà nước. Nhưng chính quyền có thể trợ giúp bằng cách tăng ngân khoảng nghiên cứu y tế, ban bố cách ly và giữ gìn an ninh tránh hoảng loạn, hổ trợ cho những khu vực bị cô lập.

Giả sử dịch bệnh lắng dịu thì mới tính đến phục hồi kinh tế. Trong trung hạn thì nhà nước có thể giảm thuế lương bổng và thuế tiêu thụ để nâng đỡ mức cầu. Bơm tiền với lãi xuất thấp để hổ trợ mức cung. Riêng Hoa Kỳ và Đức có thể tung ra nhiều chương trình đầu tư hạ tầng khổng lồ nhằm tạo công ăn việc làm cho những người thất nghiệp. Tổng số nợ trên thế giới có thể tăng vọt lên 300-500 ngàn tỷ USD, nhưng đối với những nước bị ảnh hưỡng dây chuyền mà không còn khả năng vay mượn thì sẽ gặp vô vàn khó khăn.


Trong dài hạn thế giới sẽ phải xét lại mô hình toàn cầu hóa hiện thời. Tự do mậu dịch thường được xem là giải pháp tốt nhất để phân phối hữu hiệu dây chuyền sản xuất nay lại bộc lộ nhiều yếu điểm tận gốc rể. Do công xưởng sản xuất dồn về Trung Quốc và các nước Á Châu khiến nền an ninh quốc gia của nhiều nước Tây Phương trở thành lệ thuộc vào ngoại quốc. Hiện 90% dược liệu bán ở Hoa Kỳ có xuất xứ từ Trung Quốc; công nghệ 5G của Hoa Vi dẫn đầu thế giới tạo ra lổ hổng quốc phòng đến mọi quốc gia muốn mua hàng giá hạ. Chiến tranh mậu dịch và dịch bệnh Vũ Hán sẽ làm thay đổi bộ mặt của toàn cầu hóa trong 10 năm tới đây.

Tuesday, March 10, 2020

Bầu cử 2020 (Bài 10): ai sẽ thắng?


Người Việt cái gì không biết thì đổ thừa Trời. Cho nên để dự báo kết quả bầu cử Tổng Thống Hoa Kỳ năm 2020 thì người viết không cần theo dõi các cuộc thăm dò của CBS, New York Times, v.v… do đang chờ kết quả của Ông Trời đang bỏ phiếu:

  • Nếu vi trùng Corona lăng đùng chết sạch vào khoảng tháng 5 (giống như SARS năm 2002) thì kinh tế Hoa Kỳ và thế giới sẽ tăng trưởng mạnh vào cuối năm giúp Trump táì đắc cử vẻ vang vào tháng 11.

  • Còn nếu dịch Covid-19 kéo dài qua hơn tháng 7 thì kinh tế Mỹ sẽ suy thoái trong quý 2 và quý 3; khi đó đảng Dân Chủ sẽ thắng cử.

 Thiên cơ bất khả lậu. Cho nên năm 2020 sẽ là mùa hè đỏ lửa.

Còn thêm một điểm không biết có chiêm tinh gia nào đã bàn đến chưa là hai con chuột đầu thế kỷ 21 thật là tai hại khủng khiếp: chuột đại suy thoái 2008 rồi đến dơi chuột covid-19 2020. Không biết đến năm 2032 sẽ là chuột cống hay chuột chù, nhưng nhớ bán cổ phiếu đầu năm thì ăn chắc! 

  

Sunday, March 8, 2020

Mất cân bằng trong kinh tế toàn cầu: nhà nước và chính sách công nghiệp (Bài 15)


Trung Quốc và Nam Hàn là hai quốc gia thành công với chính sách công nghiệp quốc gia (National Industrial Policy). Việt Nam thất bại khi những “quả đấm thép” chỉ mang đến thất thoát, nợ nầng và cơ hội tham nhũng. Hoa Kỳ dù không có chiến lược công nghệ do nhà nước đề ra nhưng vẫn dẫn đầu trong nhiều ngành kỷ thuật tiên tiến nhờ vào khu vực tư nhân đầy sáng tạo và năng động. Tuy nhiên ngày càng thêm nhiều lời kêu gọi chính quyền Mỹ nên khẩn cấp hổ trợ doanh nghiệp tư nhân trước đà cạnh tranh của đối thủ chiến lược là Trung Quốc.

Tiêu biểu cho chính sách công nghệ quốc gia của Trung Quốc là kế hoạch “Made In China 2025” đầu tư ồ ạt nhằm dẫn đầu hay ngang bằng với Âu-Mỹ-Nhật trong 10 ngành công nghiệp chiến lược bao gồm Điện Toán, Trí Tuệ Nhân Tạo, Điện Tái Tạo, 5G, Hàng Không, Y Khoa, v.v… Sách lược nói trên là nguyên nhân trực tiếp dẫn đến chiến tranh thương mại Mỹ-Trung và việc Hoa Kỳ lập rào cảng đối với công ty Huawei nhằm kềm hãm đà tiến của Trung Quốc. Ngược lại chính mối lo sợ này cũng cho thấy nhịp độ tăng trưởng đáng sợ của Bắc Kinh là hiện thực.

Bên cạnh sách lược công khai “Made In China 2025” nhà nước còn hổ trợ doanh nghiệp nội địa qua nhiều cách khác nhau: ưu tiên cho các công ty Trung Quốc dành thị phần trọng điểm thay vì mua hàng hóa Tây Phương; kềm giá đồng Nhân Dân Tệ nhằm hổ trợ xuất khẩu; ép buộc hãng xưởng Âu-Mỹ chuyển giao công nghệ; cung cấp vốn và đất đai giá rẻ cho doanh nghiệp nội địa; áp dụng chính sách hộ khẩu để nhà nước và doanh nghiệp chú trọng vào đầu tư thay vì chi phí an sinh xã hội cho công nhân viên; xây dựng cơ sở hạ tầng; gởi sinh viên ra nước ngoài du học và đào tạo kỷ sư trong nước; thúc đẩy cạnh tranh giữa các đại công ty Huawei và ZTE, giữa Alibaba – Tencent - Baidu nhưng vẫn mở cơ hội cho các công ty nhỏ như OnePlus, Xaomi tiến lên bất ngờ chiếm lỉnh thị phần nhằm khuyến khích thị trường không mất tính năng động. Cho nên chiến lược phát triển quốc gia của Trung Quốc rất toàn diện bao gồm mọi lãnh vực từ mậu dịch, tiền tệ, ngân hàng, công nghiệp mũi nhọn, quản lý đất đai và lương bổng, đầu tư vào hạ tầng & giáo dục; nay được hổ trợ bởi kế hoạch vòng đai con đường, Ngân Hàng Phát Triễn Hạ Tầng Châu Á (Asian Infrastructure Investment Bank) và khối mậu dịch RCEP. Nếu nền kinh tế Trung Quốc vượt qua Hoa Kỳ năm 2030 để hổ trợ các kế hoạch nói trên thành công thì tác động sẽ ngang bằng hay hơn cả nổ lực xây dựng IMF, World Bank và kế hoạch Marshall của Mỹ từ sau Thế Chiến Thứ Hai.

Nhà nước Nam Hàn đặc trọng tâm vào 3 khu vực trọng điểm gồm điện thoại di động, mỹ phẩm và giải trí (K-Pop, K-drama). Bộ Kế Hoạch và Bộ Ngoại Giao tham gia vận động cho K-Pop và K-drama lan tràn khắp thế giới để quảng bá cho thương hiệu Hàn Quốc, qua đó giới thiệu ngành phục vụ sắc đẹp cùng những sản phẩm điện tử của Samsung, LG và xe hơi Hundai. Mô hình của Nam Hàn là phát triễn qua các đại tập đoàn Chaebol.

Việt Nam noi theo Hàn Quốc với các “quả đấm thép” theo kiểu Chaebol nhưng thất bại lổ lả. Nền kinh tế Việt Nam phát triễn nhờ vào đầu tư từ nước ngoài, giá nhân công rẻ và khu vực tư nhân năng động trong khi nhà nước là một loại ký sinh trùng hút sức sống từ máu mủ quốc gia. Các “quả đấm thép” cùng những công trình xây dựng hạ tầng (đường xá, xe lửa, đô thị, v.v…) là cơ hội cho tham nhũng, thất thoát và nợ nước ngoài. Hiện vài tập đoàn tư nhân tại Việt Nam bỏ vốn vào sản xuất điện thoại cầm tay và xe hơi, nhưng nếu không chỉ lắp ráp và dán nhãn (và được nhà nước cung cấp đất đai và phân lời giá rẻ dùng vào “việc” khác) mà còn muốn tiến lên vẽ mẫu (design) và dành thị trường thì đây là những ngành công nghiệp phức tạp nhiều cạnh tranh nhất thế giới. Chưa có dấu hiệu nào cho thấy cả nhà nước lẫn tư nhân Việt Nam có tầm nhìn chiến lược lâu dài thay vì những “bốc hốt” ngắn hạn.

Trở lại với Trung Quốc và Hàn Quốc, không thể phủ nhận sự thành công của hai nước  này cho dù còn nhiều hậu quả tiêu cực phát sinh từ những lãng phí và lạm dụng trong chiến lược phát triễn quốc gia. Thế giới hiện chỉ có 3 công ty BAT (Baidu-Alibaba-Tencent) cùng Huawei của Trung Quốc mang đủ tầm vốc cạnh tranh với FAAMG (Facebook-Amazon-Apple-Microsoft-Google – xin lưu ý là người viết đổi chử N của NetFlix thành M của Microsoft) của Hoa Kỳ, tức là Mỹ-Trung bỏ xa Âu Châu và Nhật Bản. Trong một nước trước đây chỉ được thế giới biết đến qua chiến tranh Triều Tiên thì nay giới trẻ toàn cầu lại bị thu hút bởi các siêu sao K-Pop và điện thoại Galaxy của Samsung.

Hoa Kỳ không có chiến lược công nghiệp quốc gia như Trung Quốc và Nam Hàn. Hai trường hợp riêng lẻ nổi tiếng trong quá khứ là chương trình Manhattan (nhằm chế tạo quả bom nguyên tử đầu tiên trong Thế Chiến Thứ Hai) và Apollo (phi hành gia đầu tiên lên mặt trăng), còn gần đây nhất là Kế Hoạch Xanh (Green New Deal) do đảng Dân Chủ tung ra trong mùa bầu cử. Ngược lại Hoa Kỳ đầu tư rất nhiều vào quốc phòng, rồi từ đó dùng làm bể phóng cho tư nhân phát triễn trở thành các công nghệ mũi nhọn – tiêu biểu là Internet vốn bắt nguồn từ ARPANET của DoD (Bộ Quốc Phòng). Mỹ cũng có quỹ nghiên cứu để tài trợ cho các đại học và phòng thí nghiệm trong nhiều lãnh vực như sinh học (biology), vật lý cơ bản (fundamental physics) và nano technology. Tuy nhiên trong những năm gần đây các quỹ nghiên cứu này bị cắt giảm khiến có nhiều lời kêu gọi là chính quyền Hoa Kỳ phải quan tâm đầu tư nhiều hơn cho tương lai trong cuộc chạy đua với Trung Quốc.

Khuyết điểm của khu vực tư nhân nơi nhắm vào lãi tức ngắn hạn nên không đầu tư dài hạn. Khủng hoảng siêu vi Covid-19 hiện thời cũng như vấn nạn về môi trường toàn cầu cho thấy có những vấn đề mà chỉ nhà nước mới có thể huy động được nhân vật lực để giải quyết. Ngược lại nhà nước khi lạc đường tạo ra phí phạm, tham nhũng và lãng phí, tệ là Việt Nam, xấu nữa như Iran, Venezuala còn bần cùng đến mức Bắc Hàn, Cuba.

Trong khi nền chính trị của Mỹ bị phân hóa như hiện thời thì Hoa Kỳ khó lòng đạt được đồng thuận cho một chương trình công nghiệp quốc gia với tầm vóc tương tự như “Made In China 2025”. Ưu điểm của nước Mỹ nơi mượn tiền với lãi xuất cực rẻ mà lại không tận dụng cơ hội này để vay mượn đầu tư vào giáo dục và hạ tầng (infrastructure spending), trong khi các mạng lưới tải điện (electrical grid), giao thông công cộng, phi trường vì xây từ sau cuộc Đại Khủng Hoảng 1929 đến nay nên thua sút rất xa so với Á Châu. Hy vọng sau cuộc bầu cử 2020 Hành Pháp và Quốc Hội sẽ đồng ý với ngân khoảng từ 1500-2000 tỷ USD đầu tư vào hạ tầng bên cạnh những chấn chỉnh cần thiết trong giáo dục và y tế.

Ưu điểm thứ nhì của Hoa Kỳ là lãnh vực tư nhân đầy sáng tạo và năng động. Người Mỹ không sợ thất bại (thất bại là mẹ thành công) nên dám bỏ công ăn việc làm vững chắc để mạo hiểm khai phá những lãnh vực mới đầy rủi ro - điều mà không hệ thống quan lại (bureaucracy) của một nhà nước nào dù là độc tài sáng suốt có thể thay thế được. Vấn đề là chính quyền Hoa Kỳ cần tăng ngân khoảng và thay đổi luật thuế để hổ trợ cho các đại học và doanh nghiệp tư nhân khai phá những lãnh vưc mới. Riêng các công nghiệp đã được định hình như trí tuệ nhân tạo, sinh học, nano-technology, v.v… nhưng cần vốn rất cao thì nhà nước phải tăng cường đầu tư vào nghiên cứu công lẫn tư không để cho Trung Quốc qua mặt chỉ vì bỏ ra nhiều tiền hơn.

Ưu điểm thứ ba của nước Mỹ là thu hút nhân tài từ khắp thế giới. Sau Thế Chiến Thứ Hai các nhân tài đến từ Âu Châu có cùng màu da và nền văn hóa với dân bản xứ; ngày nay nhân tài đến từ Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam, Iran, v.v… đủ mọi màu da và tôn giáo nên khi được trọng dụng không khỏi tránh hiềm khích và va chạm với nền văn hóa bản xứ.

Bài học của các công ty Facebook, Google cho thấy công nghiệp mới có thể đem đến tự do và tiến bộ hoặc bị lạm dụng dùng vào kiểm soát đời sống tư nhân. Doanh nghiệp tư cần những hướng dẫn của nhà nước để xử dụng vào mục tiêu tốt. Hiện chỉ có ba nền kinh tế của Âu Châu, Hoa Kỳ và Trung Quốc có đủ năng lực đề ra những tiêu chuẩn toàn cầu về đạo đức (social responsibility) trong các ứng dụng về mạng xã hội, 5G, trí tuệ nhân tạo và sinh hóa (biotech thay đổi tế bào cải tạo con người). Âu Châu thua sút về kỷ thuật nên chỉ còn Mỹ-Trung là quyết định cho tương lai của thế kỷ thứ 21, và nếu chậm trể thì nhân loại chỉ có hai chọn lựa giữa mô hình anh cả (big brother) của nền tư bản không kềm chế kiểu Mỹ, hay mô hình độc tài toàn trị theo kiểu Trung Quốc.

Bài này phân tích về vai trò của nhà nước trong chính sách phát triển quốc gia. Bài sau sẽ tìm hiểu vai trò của nhà nước trong khủng hoảng kinh tế.

Saturday, February 29, 2020

Mất cân bằng trong kinh tế toàn cầu: nhà nước và thuế má (Bài 14)


Đa số mọi người đều đồng ý rằng nhà nước phải nắm các trọng trách thiết yếu trong nền kinh tế như giữ gìn an ninh trật tự; giám sát chất lượng hàng hóa; chống đầu cơ phá giá và độc quyền để tạo môi trường đầu tư, cạnh tranh và tiêu dùng lành mạnh; xử dụng ngân sách và thuế má chi tiêu vào những lợi ích công cộng như giáo dục, y tế và hạ tầng. Nhưng đi sâu thêm một bước thì vai trò của nhà nước trong giám sát, ngân sách và thuế má bao nhiêu là đủ để lãnh vực công không bóp nghẹt khu vực tư nhân? Ngoài ra còn những tranh cãi gay gắt như liệu nhà nước có áp đặt quan điểm về công bằng xã hội khi dùng thuế má để thay đổi nguyên trạng giàu nghèo cách biệt; hoặc có nên can thiệp vào khủng hoảng kinh tế thay vì để bàn tay vô hình tẩy rửa những quá độ của thị trường tự do; chính quyền phải có kế hoạch tạo công ăn việc làm và phát triễn công nghiệp quốc gia hay để tự do cho tư nhân và thị trường tăng trưởng trong quá trình tự thanh lọc?  


Đó là những tranh luận muôn đời giữa các kinh tế gia. Trước hết nói về thuế vì thuế má mang ý nghĩa đặc biệt trong lịch sử lập quốc của Hoa Kỳ với câu nói bất hủ “Taxation without presentation is tyranny” (Thuế má mà không có đại biểu là độc tài) khích động dân chúng ở Tân Lục Địa nổi lên chống Hoàng Gia Anh dành độc lập. Thuế là phương thức để nhà nước tái phân phối tài sản trong xã hội. Đánh thuế lũy tiến (progressive tax) lên lợi tức và tài sãn là lấy tiền nhà giàu để giúp người nghèo: lương bổng và của cải càng nhiều thì mức thuế càng nặng. Thuế tiêu thụ (xăng dầu, v.v…) tạo gánh nặng cho người nghèo nhiều hơn nhà giàu, chỉ vì người nghèo dùng phần lớn thu nhập của họ để chi tiêu vào các vật dụng thiết yếu. Giảm thuế đầu tư thì nhà giàu có lợi trước, rồi sau đó mới giúp công nhân có thêm công ăn việc làm. Tăng thuế di sản là tránh tình trạng “con vua thì lại làm vua con sãi ở chùa lại quét lá đa” tạo ra một tầng lớp ngồi không hưởng lợi vì tiền đẻ ra tiền (rent seekers).

Đa số các kinh tế gia đều đồng ý với biểu đồ thuế hình chử U ngược (gọi là Laffer Curve) tức là nhà nước tăng thuế thì thu thêm tiền; nhưng tăng đến mức độ nào đó thì tiền thu vào lại giảm bớt do sưu cao thuế nặng khiến chẳng ai còn muốn làm việc. Các kinh tế gia cánh hữu cho rằng nên giữ mức thuế tối đa khoảng 30-40%, cánh tả cho là phải tăng lên 70-90%. Cánh hữu quan niệm giảm thuế để khuyến khích tư nhân đầu tư thì cánh tả lên án gọi là chính sách “bỏ xương cho chó gặm” (trickle down economic) ưu tiên cho nhà giàu hưởng phần lợi trước còn lại bao nhiêu rơi rớt mới đến nhà nghèo, với dẫn chứng rằng sau 40 năm cắt giảm thuế (từ thời Ronald Reagan) kết quả là khoảng cách giàu nghèo tăng vọt, tiền của tập trung vào con số 1% trong khi thu nhập của 80% không hề tăng.

Cánh tả đòi tăng thuế một phần nhằm thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, phần khác chi tiêu vào giáo dục, y tế và hạ tầng để tăng cường sức cạnh tranh trong tương lai. Cánh tả gọi là đầu tư công (investment) thì cánh hữu cho là lãng phí xài bậy (tax and spend), do ngay cả khi mức thuế liên bang (federal tax) là 40% nhưng cộng thêm vào thuế tiểu bang (state tax), thuế hàng hóa (sales tax), thuế nhà đất (property tax) thì cũng đã lên đến 60-65% nhưng nhà nước vẫn không đủ tiền xài! Các chương trình xã hội lãng phí chẳng những bị lạm dụng hay trợ cấp cho di dân bất hợp pháp mà còn tạo ra một guồng máy hành chánh khổng lồ rình mò quấy nhiễu (harass) tư nhân. Riêng các chương trình xã hội gồm Medicare For All (bảo hiểm sức khỏe cho mọi người) và Green New Deal (Kế hoạch xanh) của ứng cử viên đảng Dân Chủ Bernie Sanger tốn kém 60 ngàn tỷ USD (3x GDP Hoa Kỳ) tức là thuế 100% cũng không đủ vẫn chẳng sao vì Mỹ có thể mượn thêm tiền với lãi xuất cực rẻ hiện giờ; mà nếu vẫn chưa đủ thì Hoa Kỳ có thể in thêm tiền vô tội vạ theo thuyết Tân Tiền Tệ (Modern Monetary Theory) của các kinh tế gia cánh tả.

Như vậy là thuế đi đôi với ngân sách và kích thước của nhà nước trong kinh tế. Bài kế tiếp sẽ bàn về nhà nước có thể dùng tiền thuế để tiêu dùng vào những chương trình nào.

Saturday, February 22, 2020

Mất cân bằng trong kinh tế toàn cầu: bàn tay vô hình khuyết tật (Bài 13)


Từ thập niên 80 Hoa Kỳ để bàn tay vô hình (the invisible hand) thúc đẩy tính cạnh tranh và luật đào thải của thị trường tự do mà không bị ràng buộc bởi giám sát nhà nước. Sang thập niên 90 nước Mỹ lại dẫn đầu toàn cầu hóa bằng cách hối thúc hạ thấp hay hũy bỏ hàng rào quan thuế tạo thuận lợi cho mậu dịch quốc tế (international trade), đồng thời kêu gọi mở rộng các cánh cửa tài chánh tạo thuận lợi cho những nguồn tiền khổng lồ lưu chuyển xuyên quốc gia nhằm hổ trợ cho đầu tư và thương mại. Mô hình này được thế giới tán thưởng nên được gọi là Đồng Thuận Washington (Washington Consensus.)

Cuộc đại khủng hoảng tài chánh 2007-08 đã làm lung lay hình ảnh đó. Những kinh tế gia lổi lạc nhất không ngờ rằng thị trường tự do đã không tự điều tiết (efficient market theory) để bảo đảm giá cả hợp lý và đào thải một thiểu số tham lợi. Ngược lại, gần như toàn bộ các chuyên viên tài chánh với bằng cấp danh giá từ Harvard, MIT, LSU, … cùng những ngân hàng quốc tế với hàng trăm năm kinh nghiệm đều cùng một lúc tối mặt lao vào các đầu tư đầy rủi ro trong bong bóng địa ốc như tự sát tập thể. Nếu nhà nước không can thiệp mà để mặt cho luật đào thải thì toàn bộ hệ thống ngân hàng Tây Phương sẽ sụp đổ dẫn đến hàng trăm ngàn công ty lớn nhỏ bị đóng cửa, hàng chục triệu người mất công ăn việc làm và một cuộc Đại Khủng Hoảng ngang bằng năm 1929.

Cuộc đại khủng hoảng tài chánh 2007-08 còn làm nổi bật khuyết điểm của toàn cầu hóa tuy mang đến nhiều lợi it nay lại trở thành gánh nặng vì tính chất dây chuyền trong mậu dịch quốc tế. Nhiều nước đang mở mang chịu vạ lây do thiếu vốn hay không xuất cảng được vào thị trường tiêu thụ khổng lồ của Âu-Mỹ khiến tâm lý chống Tây Phương bùng phát nhất là ở Nam Mỹ (xin so sánh tình trạng năm 2008 với dây chuyền sản xuất hiện thời bị gián đoạn do dịch Corona ở Trung Quốc). Các quốc gia thuộc nhóm BRIC (Brazil-Russia-India-China) cho rằng đã đến lúc những nước đang trổi dậy nắm đầu tàu kinh tế thế giới thay thế sự lụn bại của Âu-Mỹ. Bắc Kinh tung ra một khối kích cầu khổng lồ trị giá trên 500 triệu USD, tuy sau này sinh ra hậu hoạn về tín dụng nhưng cũng đã làm bàn đạp giúp nền kinh tế Hoa Lục tăng vọt lên hàng thứ 2 trở thành một đối thủ địa chính trị tranh giành vị trí cường quốc hàng đầu với Hoa Kỳ. Trong khi Trung Quốc lớn mạnh thì cuộc đại khủng hoảng 2007-08 lại làm nổi bật những bất mản tiềm tàng trong tầng lớp trung lưu-công nhân ở Mỹ suốt 30 năm thu nhập không hề tăng mà còn lo sợ bị mất việc. Toàn cầu hóa gây thiệt hại nặng nề cho giới trung lưu Tây Phương trong khi lại mang nhiều lợi lộc cho tầng lớp tinh hoa (elites). Bàn tay vô hình không với đủ dài theo toàn cầu hóa để điều chỉnh tình trạng mất công ăn việc làm và mất cân đối trong cán cân mậu dịch. Căm giận hơn nửa khi giới ưu tú và các ngân hàng suýt làm sụp đổ nền kinh tế Hoa Kỳ năm 2008 thì lại được nhà nước nâng đỡ không hề bị tù tội trong lúc dân chúng gánh chịu hậu quả bị mất nhà và mất việc thì…ráng chịu.

Những nguồn tiền khổng lồ di chuyển xuyên quốc gia theo làn sóng tự do hóa tiền tệ (financial liberalization) tuy dẫn đến phát triển nhưng đồng thời liên tục thổi nên những bong bóng ở Mexico (1994) Đông Á (1997) Nga (1998) Nam Mỹ (2000) Hoa Kỳ (2007-09) và Âu Châu (2010-12). Mặt khác các nước đang phát triển lại theo chính sách kềm hảm tiền tệ (financial repression) nhằm hổ trợ xuất cảng thu vào những khoảng dự trử ngoại tệ khổng lồ; số tiền này chảy ngược dòng từ nước nghèo sang cho nước giàu vay mượn dẫn đến tình trạng mất thăng bằng lạ lùng mà không bị cơ chế quốc tế nào thanh tra.

Cho nên bước sang thập niên thứ 3 của thế kỷ thứ 21 nổi lên tiếng kêu đòi mở rộng vai trò của nhà nước để giám sát các bất cập của thị trường tự do, của mậu dịch toàn cầu, của tài chánh quốc tế và của tình trạng chênh lệch giàu nghèo ngày càng tăng. Những giải pháp được đưa ra gồm (1) mô hình tư bản ở Hoa Kỳ cần tăng cường tính cạnh tranh - Donald Trump (2) tư bản được duy trì nhưng phải thay đổi tận gốc rễ - Elizabeth Warren (3) loại bỏ tư bản thay vào đó với mô hình dân chủ xã hội - Bernie Sander, và (4) tư bản và toàn cầu hóa hiện đang tốt rồi nên chỉ cần sửa đổi chút ít - Joe Biden và Michael Bloomberg. Đây là những cách nhìn khác nhau sẽ được phần tích trong các bài sau.