Sunday, January 19, 2020

Mất cân bằng trong kinh tế toàn cầu: cuộc chạy đua xuống đáy vực (Bài 7)

Khoảng cách giàu nghèo tăng vọt không những ở Tây Phương mà còn khắc nghiệt hơn nhiều tại các nước đang phát triễn. Hiện Trung Quốc có nhiều tỷ phú hơn Hoa Kỳ  trong khi nhiều tập đoàn đại gia mọc lên nhanh chóng ở Ấn Độ, Việt Nam. Ngược lại đa số công nhân vẫn còn sống chui rút trong các ổ chuột ở những thành phố lớn. Hai câu hỏi đặt ra là (1) tại sao tại Á Châu không trổi dậy phong trào dân túy phản kháng như ở Âu-Mỹ, và (2) liệu chênh lệch giàu nghèo trong các nước đang mở mang có sẽ thu hẹp dần hay ngày càng thêm sâu rộng?

Trả lời đơn giản cho câu hỏi thứ nhất là người dân tại các nước đang phát triển bị đàn áp nên không thể tập hợp thành phong trào chống đối mạnh mẻ như ở Tây Phương. Nhưng bên cạnh góc nhìn tiêu cực đó còn có thêm một nguyên nhân tích cực khác là toàn cầu hóa đã mang hàng tỷ dân chúng châu Á thoát ra khỏi ngưỡng cửa nghèo khó. Riêng Trung Quốc chỉ trong vòng 30 năm đã đưa từ 500-800 triệu người tiến lên mực sống trung lưu với sức mua (purchasing power) ngang bằng với Tây Phương. Tại Ấn Độ và Việt Nam điện nước, cầu cống, nhà lầu và điện thoại cầm tay lan tràn đến tận thôn quê. Tuy xã hội còn nhiều bất cập nhưng gần 100% dân chúng ở Đông và Nam Á (trừ Trung Đông) đạt đồng thuận rằng thương mại toàn cầu đã cải thiện đời sống của họ từ 30 năm nay. Hố sâu giàu nghèo tuy tăng vọt nhưng đời sống của mỗi gia đình vẫn được cải thiện. Ngược lại tại Âu-Mỹ khoảng 80% dân chúng lại thấy mức sống của họ chẳng những không tăng mà còn giảm cũng chính trong 30 năm đó. Cho nên các cuộc phản kháng chống độc tài, tham nhũng, bất công ở Á Châu rất khác biệt so với trào lưu dân túy chống toàn cầu hóa của Tây Phương.

Nhưng nếu giàu nghèo ngày thêm chênh lệch thì rồi xã hội nào cũng sẽ rơi vào bế tắc. Câu hỏi thứ nhì là liệu khoảng cách giàu nghèo sẽ thu hẹp dần hay ngày thêm sâu rộng ở các nước đang mở mang? Kinh tế gia Richard Koo rút tỉa bài học Tây Phương nhận xét rằng khi con số lao động từ thôn quê ra thành thị làm việc trong các nhà máy hảng xưởng giảm dần, tức là lượng công nhân ít đi so với nhu cầu thuê mướn thì khi đó giới công nhân ở vào thế mạnh để đòi tăng lương và bổng lộc. Khoảng cách giàu nghèo trong xã hội nhờ đó thu hẹp. Giai đoạn này cũng chính là lúc mà nền dân chủ bắt nền móng vững chắc ở Âu-Mỹ-Nhật, và gần đây nhất là tại Nam Hàn và Đài Loan nhờ đào tạo được thành phần trung lưu-công nhân bên cạnh giới trung lưu-trí thức làm căn bản.

Trung Quốc hiện đang ở khúc ngoặc nói trên: con số lao động từ thôn quê ra thành thị giảm dần nên công nhân Trung Quốc được tăng lương và nhà cầm quyền cải thiện đời sống bằng cách nới lỏng chế độ hộ khẩu. Người lao động nhờ vậy hưởng thêm các quyền lợi về bảo hiểm sức khỏe, lương hưu trí, trợ cấp nhà ở và giáo dục con cái. Liệu giới lao động Trung Quốc có thoát ra khỏi các ổ chuột để tiến lên mức sống trung lưu-công nhân và góp phần xây dựng dân chủ hay không, thật tình không ai biết trước được.

Âu-Mỹ-Nhật đã có 30 năm để xây dựng tầng lớp trung lưu-công nhân trong khoảng 1950-1980. Đài Loan và Nam Hàn có khoảng 20 năm từ 1980-2000. Trung Quốc vừa bước sang khúc ngoặc này nên không biết sẽ còn kéo dài bao lâu, nhưng tiếp theo Hoa Lục thì thế giới thay đổi khiến việc xây dựng thành phần trung lưu-công nhân trong những quốc gia kém mở mang trở nên vô cùng khó khăn. Nguyên do vì cuộc chạy đua xuống đáy vực (race to the bottom) giữa các nước chậm tiến trở nên gấp rút theo nhịp độ toàn cầu hóa và tự động hóa.

Nếu chỉ lấy riêng thí dụ tại Đông-Á thì Hồng Kông bắt đầu với lao động mồ hôi và cơ bắp (sweatshop) trong các ngành lắp ráp và may mặc vào thập niên 60. Khi Hồng Kông vượt qua giai đoạn công nhân giá rẻ thì công ăn việc làm loại này chạy sang Singapore để dùng làm bể phóng, rồi sau đó tới phiên Đài Loan, Nam Hàn,  Trung Quốc, và nay là Việt Nam, Phi, Indonesia, Bangladesh v.v…Cạnh tranh giữa những quốc gia kém mở mang ngày càng gay gắt vì các nước cùng học và áp dụng chung một công thức là dùng nhân công rẻ và xuất khẩu làm bàn đạp trong bước đầu phát triển. Lao động giá rẻ bị toàn cầu hoá khiến mức cung trở nên dư thừa trên thị trường quốc tế. Giới công nhân ở Việt Nam không những phải cạnh tranh với nguồn nhân lực từ thôn quê đổ ra thành thị ở Việt Nam mà còn cả từ Phi, Indonesia, Bangladesh, Pakistan, Mexico, v.v… Áp lực giá cả khiến công nhân Việt Nam muốn đòi tăng lương thì hảng xưởng Tàu, Đại Hàn, Đài Loan sẽ chạy sang các nước khác. Bên cạnh đó tự động hóa (và chiến tranh thương mại) còn đe dọa đến công ăn việc làm của người lao động toàn cầu. Cho nên gọi là cuộc chạy đua xuống đáy vực giữa các nước đang mở mang thay vì nâng cao giá trị gia tăng nay phải tranh giành khâu lắp ráp và may mặc nên không thể cải thiện quyền lợi người lao động. Kẻ chiến thắng trong cuộc chạy đua này dù ở các nước công nghiệp hay đang mở mang chính là các đại tập đoàn, những nhà tỷ phú và lớp trí thức ưu tú thích ứng với trào lưu toàn cầu hóa trong khi thành phần lao động công nhân ngày càng bị bỏ rơi.

Áp lực từ toàn cầu hóa đè nặng lên giới công nhân, dù lương bổng có tăng theo GDP nhưng hố sâu giàu nghèo ngày thêm rộng. Người lao động Việt, Phi, Indonesia, Bangladesh, Pakistan, v.v… khi dọn từ thôn quê ra thành phố sẽ trọn đời sống trong các ổ chuột mà không thể nào mơ mộng mua được căn nhà trị giá 500 ngàn USD trở lên và cho con cái du học để có mảnh bằng tốt nhằm bắt kịp với giới trung lưu-thành thị chớ đừng nói gì đến các đại gia.

Nhưng chính tình trạng xấu này lại mang đến một hệ lụy bất ngờ tương đối tốt, khi công nhân ở các nước đang mở mang vì không có cơ hội định cư mọc rễ ở thành thị nên để dành tiền xây nhà và lập gia đình ở thôn quê giúp nông thôn phát triển. Khi kinh tế toàn cầu suy sụp, hảng xưởng ồ ạt sa thải nhân viên thì hàng chục triệu công nhân trở về làng mạt sinh sống như từng xảy ra tại Trung Quốc năm 2008. Việc này làm giảm nhẹ cơn tác động và nổi bất mản do khủng hoảng gây nên.

Kết luận là việc xây dựng thành phần trung lưu-công nhân và nền dân chủ ở Trung Quốc và các nước đang mở mang trở nên vô cùng khó khăn so với Âu-Mỹ-Nhật-Đài Loan-Nam Hàn may mắn đi trước. Nhưng ngược lại chính Âu-Mỹ đang đánh mất các cơ xưởng sản xuất vốn là cổ máy nuôi dưỡng thành phần trung lưu-công nhân nên nay rơi vào xáo trộn xã hội.


Bài 8 tiếp theo sẽ phân tích giải pháp cho tình trạng giàu nghèo chênh lệch không phải bằng cách san bằng tài sản trong xã hội mà chính nhờ tạo môi trường cho mọi người có cơ hội thăng tiến đồng đều (equal opportunity). Còn bằng không thiếu cơ hội thăng tiến (lack of opportunity) sẽ dẫn đến tâm lý bi quan, bất mãn và chống đối trong xã hội.

Saturday, January 11, 2020

Trump, Iran và 4 trường phái ngoại giao Mỹ


Vài học giả đã phân tách ngành ngoại giao Hoa Kỳ có 4 khuynh hướng gồm:

  1. Trường phái Hamiltonian: thiên về lợi ích Mỹ khi phát huy thương mại toàn cầu; không vướng mắc đa đoan vào quá nhiều công việc nhưng phải cảnh giác đối với các đối thủ nước lớn (great power competition.) Một điển hình là Trump đặt nặng cạnh tranh kinh tế và chính trị với Trung Quốc mà nhẹ về nhân quyền.

  1. Wilsonian: đặt nặng lý tưởng Mỹ khi Hoa Kỳ đem sức mạnh quân sự, chính trị và kinh tế để phát huy dân chủ và tự do toàn cầu. Tiêu biểu cho quan điểm này là các phát biểu to lớn của Obama.

Hai khuynh hướng nói trên sinh ra hai trường phái Tân Bảo-Thủ (Neo-Conservatism thiên về Wilsonian) và Tân Tự-Do (Neo-Liberalism thiên về Hamiltonian) vốn ảnh hưởng đến thành phần ưu tú (elites) và giới lãnh đạo của Hoa Kỳ từ sau Thế Chiến Thứ Hai. Ngược lại cả hai đều là những lý thuyết to lớn nên không phù hợp với tâm lý thực tiển của quần chúng Mỹ như hai khuynh hướng sau này:

  1. Jeffersonian: đèn nhà ai nấy sáng. Nước Mỹ đừng có dại dột làm sen đầm quốc tế mà phải lo cho chính mình trước đã. Đây là khẩu hiệu America First của Donald Trump.

  1. Hamiltionian: Ông không kiếm chuyện với ai (điều này không đúng với Hoa Kỳ hiện giờ), nhưng Thằng nào đụng chạm đến Ông thì Ông đập cho vỡ mặt! Đây là quyết định của Donald Trump khi thanh toán Tướng Suleimani sau thời gian dài không trả đủa Iran bắn tàu dầu, bắn hảng lọc dầu Saudi, bắn rơi máy bay không người lái, pháo kích căn cứ quân sự và đe dọa tòa Đại Sứ Mỹ ở Iraq.

Tất nhiên cuộc đời không đơn giản một chiều và mỗi Tổng Thống lại gánh chịu những hậu quả từ quyết định của các vị tiền nhiệm nên Trump tùy theo trường hợp và hoàn cảnh mà trộn lẩn giữa (1), (3) và (4) nhưng đặt nhẹ (2). Các nhà phân tích chính trị lại có cái nhìn một chiều nên cho là Trump bất nhất (unpredictable) khi muốn Hoa Kỳ giảm hiện diện ở Trung Đông mà lại khiêu khích Iran. Nhưng thực tế thì khác, Trump mâu thuẩn mà không mâu thuẩn vì muốn rút ra khỏi Trung Đông thì phải đánh cho thật đau để đối thủ không dám coi thường (như Nixon dội bom Hà Nội 1972), rồi sau đó hai bên mới nghiêm chỉnh thương lượng để tạo không gian cho Mỹ rút lui cho NATO trám vào (Trump tuyên bố rằng Hoa Kỳ không còn lệ thuộc vào dầu hỏa Trung Đông nên NATO - tức là Âu Châu - phải gánh thêm trách nhiệm). Hy vọng kết quả lâu dài không phải là Iran (giống như Bắc Việt Nam) thắng sau khi Hoa Kỳ rút trong trường hợp NATO là một lực lượng trung gian khả tín.

Tuy nhiên cũng khó so sánh vụ Iran với Việt Nam vì quyền lợi của Mỹ ở hai khu vực rất khác biệt: Đông Nam Á là cơ bắp trong dây chuyền thương mại toàn cầu nhưng Trung Đông vẫn là mạch máu dầu hỏa cho kinh tế thế giới. Chỉ có thể kết luận là chẳng ai biết được tương lai (thiên cơ bất khả lậu). Hoa Kỳ và thế giới thở phào khi Trump thấu cáy mà Iran không trả đủa nên không có chiến tranh. Nếu Trump và Iran cùng lợi dụng cơ hội này để thương lượng thì có thể tìm ra một giải pháp chung; còn nếu một bên thừa cơ sấn tới hay bên kia chờ dịp trả thù thì biển lửa Trung Đông vẫn còn tiếp diễn. It takes two to dance, tức là hai người cùng chịu ôm nhau ra sàn nhảy thì mới có nhảy đầm.

Tuesday, January 7, 2020

Mất cân bằng trong kinh tế toàn cầu: đi tìm nguyên nhân khoảng cách giàu nghèo trong xã hội (Bài 6)


Bài 4 trình bày nhận định của kinh tế gia Thomas Piketty rằng khoảng cách giàu nghèo ngày càng sâu rộng ở Tây Phương chính là nằm trong tiến trình sơ cứng của xã hội tư sản khi mà của cải và tài sản ngày càng thêm tích lũy vào tay thiểu số. Điều này sẽ tạo ra đẳng cấp xã  hội (kẻ thù của dân chủ) và bóp nghẹt cạnh tranh (kẻ thù của tư bản). Tình trạng nói trên chẳng khác gì cây cổ thụ trong cánh rừng già mỗi ngày bám sâu thêm cội rễ để giết chết không cho các mầm non mới mọc lên xung quanh. Cho nên nhà nước phải có chính sách tái phân phối tài sản trong xã hội, thay vì đợi đến lúc hố sâu giàu nghèo quá xa sẽ dẫn đến bất mãn rồi bạo động cách mạng.

Bài 5 trình bày quan điểm của kinh tế gia Richard Koo rằng khoảng cách giàu nghèo ở Âu-Mỹ hiện là kết quả của cuộc chạy đua toàn cầu hóa khi cơ xưởng sản xuất từ Âu-Mỹ di dời sang Đông Á nhằm khai thác nguồn nhân lực rẻ. Vào thập niên 1950-1970 chính những hảng xưởng này đã là nhịp cầu giúp cho giới công nhân Tây Phương dù không có bằng đại học nhưng vẫn tiến lên đời sống trung lưu với công ăn việc làm ổn định và đồng lương cao, thì nay các nước Âu-Mỹ đánh mất đi cổ máy đào tạo thành phần trung lưu-công nhân nên phải rơi vào khủng hoảng chính trị và kinh tế. Thành quả kinh tế từ toàn cầu hóa chỉ tập trung vào thiểu số tinh hoa với trình độ học vấn cao mà bỏ xa đa số quần chúng còn lại. Tiến trình này dẫn đến hố sâu giàu nghèo và nổi bất mãn trong xã hội. Cho nên nhà nước phải có chính sách để khuyến khích đầu tư vào các ngành nghề mới nhằm tạo công ăn việc làm tốt cho những người bị mất việc do toàn cầu hóa.

Mỗi vấn đề phức tạp thường có nhiều lý do khác nhau. Người viết nghĩ rằng hai cách nhìn nói trên có thể được tổng hợp như nguyên nhân chủ quan (Thomas Piketty) rằng hố sâu giàu nghèo là tiến trình già nua của xã hội tư sản, và lý do khách quan (Richard Koo) khi hảng xưởng sản xuất di dời ra khỏi Âu-Mỹ khiến giới trung lưu–công nhân mất việc nên bị thành phần trung lưu-trí thức và thượng lưu (elites) bỏ rơi trong tiến trình toàn cầu hóa. Nhưng ngược lại hai phương thức giải quyết lại trái ngược nhau nên không thể dung hòa: cánh tả viện dẫn Piketty đòi tăng thuế trong lúc Richard Koo đồng ý với cánh hữu cần nên giảm thuế (Ông Richard Koo không nổi tiếng bằng Thomas Piketty nên ít được nhắc đến cho dù theo người viết cả hai người đều có đóng góp đáng kể.)

Cánh tả (Bernie Sander, Elizabeth Warren) đòi đánh thuế lũy tiến (progressive tax) lên tài sản và thu nhập của nhà giàu để nhà nước dùng tiền đó đầu tư vào giáo dục, y tế và hạ tầng nhằm tạo cơ hội cho đa số dân chúng chạy theo thành phần ưu tú. Ngược lại cánh hữu như Trump (và ngay cả Macron mà người viết không biết ở Pháp có xếp vào trung tả hay không) giảm thuế để khuyến khích tư nhân đầu tư đẩy nền kinh tế chạy nước rút khi bị các nước Đông-Á rượt đuổi, qua đó tạo công ăn việc làm mới cho thành phần công nhân mất việc. Cánh tả đòi tăng đầu tư công trong khi cánh hữu khuyến khích đầu tư tư nhân. Nhà nước không đầu tư đầy đủ thì hạ tầng, y tế, giáo dục và an sinh không có để bắt nhịp cầu cho những người thua sút vương lên, nhưng đầu tư tư nhân thường là hữu hiệu hơn do tiền rút từ khúc ruột của chính mình so với nhà nước xài tiền chùa móc túi của người dân.

Chẳng những hai chính sách tăng hay giảm thuế trái ngược với nhau mà một vấn đề mấu chốt vẫn chưa được giải quyết, tức là đầu tư dù công hay tư nhưng như thế nào để tạo ra công ăn việc làm mới tương xứng với đồng lương và mức sống của giới trung lưu-công nhân vào những năm 1950-1970. Giảm thuế để khuyến khích tư nhân đầu tư vào công nghiệp hiện đại thì giới ưu tú (elites) sẽ hưởng phần lợi lớn trong khi thành phần lao động tuy có việc làm nhưng vẫn chật vật với đồng lương thấp. Tăng thuế để nhà nước đầu tư vào an sinh xã hội và giáo dục thì nhiều người lao động lớn tuổi khó đi học lại, hoặc các gia đình lao động không khuyến khích con cái học lên đại học trong khi chế độ an sinh sanh ra tính lười biếng và ỷ lại.

Còn thêm hai vấn đề khác nửa mà cả hai tác giả không nhắc đến gồm (1) Trung Quốc sẽ không chỉ dừng lại ở khâu sản xuất (manufacturing) mà đang đầu tư ồ ạt nhằm tiến lên trình độ sáng tạo (innovation) và bản vẽ (design), (2) trí tuệ nhân tạo (artificial intelligence) và bản in 3-chiều (3D printer) sẽ thay thế con người trong nhiều lãnh vực từ lao động trí óc đến chân tay. Liệu tự động hóa có sẽ mang đến hàng triệu triệu công ăn việc với đồng lương cao nhưng chỉ cần trình độ học vấn trung bình và thấp như cơ khí hóa từng làm trong các nhà máy và xí nghiệp hay không? Nếu không thì trong tương lai ngay cả thành phần trung lưu-trí thức ở Tây Phương cũng sẽ sợ mất việc, rồi đến cả dân chúng ở các nước đang mở mang cũng thiếu công ăn việc làm do tự động hóa. Thành quả kinh tế rốt cuộc ngày càng tích lũy vào giới ưu tú toàn cầu (global elites) có vốn tư bản (capital) và trình độ chuyên môn rất cao để đầu tư và xử dụng máy móc thay thế con người. Thuế tài sản (wealth tax) tuy có thể làm giảm phần nào  chênh lệch giàu nghèo nhưng chỉ có cần lao mang đến giá trị và sự tự tin cho mỗi người (nhàn cư vi bất thiện). Cho nên tạo đâu ra hàng chục hay trăm triệu công ăn việc làm vốn sẽ bị tự động hóa thay thế là câu hỏi không ai mường tượng được giải pháp.

Trên đây là những nét sơ lược giải thích hai quan điểm của Thomas Piketty và Richard Koo cho dù bổ túc lẫn nhau nhưng lại dẫn đến khác biệt sâu sắc trong chính sách kinh tế của cánh tả và hữu ở Tây Phương, tựu trung nhằm tăng thuế (để lấp hố sâu giàu nghèo) hay giảm thuế (nhằm khuyến khích đầu tư). Tuy có thể tổng hợp giữa hai cách nhìn của hai tác giả thì ngược lại không có một biện pháp dung hòa giữa tăng hay giảm thuế, và cũng chưa có một phương thức hữu hiệu để tạo ra việc làm với đồng lương và mức sống tương xứng so với công việc trong các hảng xưởng sản xuất ở Âu-Mỹ vào thập niên 1950-1970.

Nhiều người sẽ hỏi tại sao thuế má quan trọng như vậy? Lý do ngoại trừ chế độ cộng sản nơi đó nhà cầm quyền chiếm đoạt mọi tài sản, còn trong mô hình tư bản thuế má là biện pháp để nhà nước thay đổi bộ mặt xã hội. Chính quyền giảm thuế khi khuyến khích đầu tư, tiêu thụ, hay sinh con tăng dân số, v.v…; nhà cầm quyền tăng thuế để trừng phạt (sin tax) nhà giàu, hũy hoại môi trường (environment tax), hạn chế hút thuốc và uống rượu, v.v… Thuế nhiều hay ít thì sự kiểm soát của chính quyền cũng theo đó tăng hay giảm làm tăng trưởng hay bóp chết nền kinh tế.

Thuế má, tài chánh, tiền tệ, luật lệ (luật lao động, môi trường, v.v…) và các quy định (regulations) của nhà nước nhằm chi phối nền kinh tế sẽ là đề tài trong nhiều dịp khác. Riêng bài 7 tới đây sẽ tìm hiểu về hố sâu giàu nghèo và cuộc chạy đua xuống đáy vực (race to the bottom) ở các nước đang phát triển như Việt Nam.

Friday, January 3, 2020

Mất cân bằng trong kinh tế toàn cầu: đi tìm nguyên nhân khoảng cách giàu nghèo trong xã hội (Bài 5)


Kinh tế gia gốc Á-châu Richard Koo trong quyển Mặt Trái của Kinh Tế Vĩ Mô và Tương Lai của Toàn Cầu Hóa (The Other Half of Macroeconomics and the Fate of Globalization) nhận xét rằng một nền kinh tế thường trải qua 3 giai đoạn trong quá trình phát triễn: tiền công nghiệp, công nghiệp và sau đó là…bị rượt (pursued phase)! Những trường hợp tiêu biểu gồm Hoa Kỳ bị Nhật Bản đuổi theo vào thập niên 1970-80, hay Trung Quốc hiện chạy đua với khối Tây Phương. Mỗi giai đoạn trong tiến trình nói trên làm thay đổi mức cung cầu về lao động khiến giới công nhân có thế mạnh hay yếu khi tranh đấu đòi tăng lương bổng và chia sẻ thành quả kinh tế trong xã hội, theo đó hố sâu giàu nghèo sẽ tăng hay giảm.

Vào giai đoạn tiền công nghiệp dân chúng ở nông thôn đổ dồn về thành phố để tìm công ăn việc làm trong các hảng xưởng như trường hợp Việt Nam và Trung Quốc hiện thời hay Hoa Kỳ và Âu Châu ở cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Mức cung lớn hơn cầu cho nên giới lao động ở vào thế yếu khi tranh đấu đòi tăng bổng lộc, dù có biểu tình hay đình công thì lương bổng và các quyền lợi an sinh xã hội (y tế, nhà ở, giáo dục con cái, hưu trí, v.v…) vẫn không được cải tiến xứng đáng so với nhịp độ tăng trưởng của GDP. Do lương trả công nhân ít trong khi nhu cầu về vốn đầu tư và đất đai đô thị nhảy vọt nên tài sản của giới chủ và thành phần có nhà đất ở thành thị tăng nhanh so với thu nhập của người lao động, từ đó tạo ra hố sâu giàu nghèo trong giai đoạn tiền công nghiệp.

Sau đó nền kinh tế tiến lên khúc quanh từ tiền công nghiệp sang công nghiệp. Lượng người ở thôn quê và thành thị trở nên cân xứng cho nên nhân lực dồn vào thành phố để tìm việc trong hảng xưởng giảm dần (móc điểm này còn gọi là Lewis Turning Point hay LTP). Trung Quốc hiện đang ở khúc ngoặc LTP. Mức cung ít lại nên giới lao động ở thế mạnh khi đòi tăng lương và bổng lộc (y tế, nhà ở, giáo dục con cái, hưu bổng, môi trường, v.v…) để thành quả kinh tế được phân phối đồng đều hơn giữa chủ và thợ. Khoảng cách giàu nghèo giảm bớt trong giai đoạn công nghiệp như từng xảy ra tại Âu-Mỹ những năm 1950-70.

Giai đoạn công nghiệp cũng là lúc mà giới công nhân Tây Phương tiến lên giai cấp trung lưu. Tại Hoa Kỳ vào thập niên 1950-1970 một công nhân không có bằng đại học nhưng làm việc tại các hãng Ford, GM, v.v… vẫn được hưỡng lương cao, việc làm bảo đảm trọn đời, tiền hưu trí, có bảo hiểm y tế và đủ khả năng mua nhà và xe hơi. Do không thể nào trong một nước ai cũng có bằng đại học cho nên nhiều kinh tế gia đã nhận xét rằng các cơ xưởng sản xuất (manufacturing) chính là cổ máy đào tạo giai cấp trung lưu – công nhân, trong khi giới trung lưu là nền móng của xã hội dân chủ.

Móc ngoặc từ tiền công nghiệp sang công nghiệp cũng chính là lúc mà người dân ở Đài Loan và Nam Hàn tranh đấu thành công đòi dân chủ vào cuối thế kỷ 20. So với các cuộc cách mạng khác trong cùng khoảng thời gian ở Phi Luật Tân, Indonesia và Argentina thì nền dân chủ của Đài Loan và Nam Hàn vững chắc hơn nhiều khi được hậu thuẩn bởi một tầng lớp trung lưu lớn mạnh thay vì chỉ đơn thuần là các phong trào quần chúng bộc phát như tại các nước còn lại.

Nhưng nền kinh tế không dừng lại trong giai đoạn công nghiệp mà theo nhịp độ toàn cầu hóa bị … rượt đuổi. Các quốc gia chậm tiến dựa vào mô hình phát triển của những nước đi trước để chạy theo. Cơ xưởng sản xuất ở Tây Phương di dời sang Đông Á để xử dụng nguồn nhân công rẻ (so với giá lao động cao ở Âu-Mỹ) và luật lệ lỏng lẻo.

Không thể phủ nhận lợi ích vô cùng to lớn của toàn cầu hóa vốn đã nâng cao sức tiêu thụ và đem hàng tỷ con người ra khỏi ngưỡng cửa nghèo khó trên toàn thế giới. Toàn cầu hóa, trên lý thuyết, là sự tái phân phối dây chuyền từ sáng tạo (innovation), bản vẽ (design), sản xuất (manufacturing), phân phối (distribution) và tiêu dùng (consumption) cho phù hợp với lợi thế của từng quốc gia nhằm hữu hiệu hóa nền kinh tế toàn cầu. Nhưng nếu chỉ tái phối trí trong phạm vi của một quốc gia thì dân chúng ở những vùng bị mất việc sẽ di cư sang các địa phương có công ăn việc làm mới và tốt hơn. Còn với toàn cầu hóa khi sản xuất di dời sang các nước như Trung Quốc hay Việt Nam thì không thể nào một người công nhân Âu-Mỹ theo đó dọn nhà qua Á Châu đi tìm việc!

Trở lại với các nước công nghiệp bị đuổi, trước đây là Hoa Kỳ bị Nhật Bản rượt vào thập niên 70-80, rồi Nhật bị Nam Hàn – Đài Loan đuổi, nay đến lúc Trung Quốc chạy đua với Âu-Mỹ-Nhật, Hoa Lục lại sẽ bị các nước Đông Nam Á và Ấn Độ rượt. Điểm đáng nói là tình trạng đuổi rượt ngày càng gấp rút như Việt Nam chưa hoàn thành công nghiệp hóa đã bị Bangladesh rượt trong các lãnh vực may mặc và lắp ráp, nhưng đây sẽ là đề tài của một bài khác về cuộc chạy đua xuống đáy vực – race to the bottom - lại cũng liên hệ đến hố sâu giàu nghèo nhưng ở các nước đang mở mang.

Trong giai đoạn đuổi rượt hiện tại nhiều cơ xưởng sản xuất ở các nước công nghiệp bị di dời sang những quốc gia đang mở mang. Nền dân chủ ở Tây Phương đánh mất đi cổ máy sản xuất thành phần trung lưu – công nhân không có bằng đại học. Mức cầu giảm nên giới lao động Âu-Mỹ nằm trong thế yếu khi đòi tăng lương bổng hay để bảo vệ các bổng lộc trước đây như tiền hưu trí (pension). Gần mất việc thì chẳng ai hó hé đòi tăng lương!

Trên lý thuyết xã hội hậu công nghiệp sẽ bù đắp những mất mát bằng cách tạo ra công ăn việc làm mới trong các ngành nghề sáng tạo (innovation), bảng vẽ (design) và dịch vụ (services) đồng thời kềm hãm lạm phát nhờ vào hàng hóa giá rẻ nhập cảng từ những nước đang phát triển. Nhưng sáng tạo và bảng vẽ đòi hỏi trình độ đại học (như ngành điện toán và kỷ thuật) nên giới hạn trong thành phần ưu tú và trung lưu – trí thức; còn các dịch vụ có lương cao như y tế và tài chánh lại cần trình độ chuyên môn, trong khi dịch vụ buôn bán ở chợ búa như Walmart chỉ với đồng lương tối thiểu không đủ sống ngày qua ngày. Cho nên thành phần trung lưu – công nhân bị thất nghiệp nhưng không tìm ra việc làm mới với đồng lương tương xứng vì không có bằng đại học hay đã lớn tuổi không thể nào trở lại trường học. Lương bổng của 80% dân chúng Tây Phương không tăng so với lạm phát trong suốt 30 năm kể từ toàn cầu hóa.

Nhưng GDP ở Hoa Kỳ vẫn tăng - tức là thành quả kinh tế không trải rộng mà chỉ tập trung vào thiểu số ưu tú. Trong số này có 0.01% là các tỷ phú nhưng cũng bao gồm 19.99% những người thành đạt và giai cấp trung lưu – trí thức. Không ít các gia đình người Mỹ gốc Việt và di dân từ Trung Quốc, Ấn Độ sống tại các thành phố ở Cali, Texas, Washington State và DC, Massachusett nằm trong diện ưu tú này (cho dù vẫn ăn phở, lái xe Toyota hay Lexus, có một vài căn nhà nên dù không cảm thấy mình thiệt giàu nhưng vẫn nằm trong nhóm ưu tú của xã hội.)

Thành phần ưu tú và trung lưu – trí thức có tiền đầu tư vào địa ốc, cổ phiếu và đại học cho con cái là những món giá cả tăng vọt trong thời đại toàn cầu hóa. Trong khi đó giới trung lưu – công nhân thất nghiệp không tìm ra việc làm vững chãi đủ để trả tiền giữ trẻ, nhà ở, y tế thì làm thế nào dành dụm lo cho hưu trí và đại học cho con cái. Hố sâu giàu nghèo tạo ra hai đẳng cấp mà thành phần bên dưới đánh mất chiếc cầu để vươn lên. Đẳng cấp là kẻ thù của nền dân chủ và sức sống của hệ thống tư bản.

Người viết sẽ phân tích về một gạch nối giữa Thomas Piketty (Bài 4) và Richard Koo (Bài 5) trong bài 6 để tiếp tục tìm hiểu về tình trạng mất cân bằng trong kinh tế Âu-Mỹ. Bài 7 sẽ phân tích về khoảng cách giàu nghèo và cuộc chay đua xuống đáy vực (race to the bottom) ở các nước đang phát triển như Việt Nam.



Saturday, December 28, 2019

Mất cân bằng trong kinh tế toàn cầu: đi tìm nguyên nhân khoảng cách giàu nghèo trong xã hội (Bài 4)


Có rất nhiều nghiên cứu về khoảng cách giàu nghèo ở Âu-Mỹ nhưng bài này chỉ chọn ra 2 giải thích được người viết xem như đáng chú ý nhất: quan điểm thứ nhất của kinh tế gia người Pháp Thomas Piketty cho rằng khoảng cách giàu nghèo là tất yếu một khi tài sản tích tụ trong xã hội tư bản, và lập luận thứ hai của kinh tế gia người Mỹ gốc Nhật Richard Koo cho thấy hố sâu giàu nghèo hiện là hậu quả của toàn cầu hóa. Hai gốc nhìn này có thể bổ túc lẫn nhau như giữa hai yếu tố nội tại và khách quan. Riêng phạm vi bài này sẽ sơ lược về Piketty và ảnh hưởng đến nền chính trị cánh tả Tây Phương, bài sau sẽ trình bày về Richard Koo và kế đó là một bài tổng hợp.

Thomas Piketty nổi tiếng với tác phẩm đồ sộ Vốn Tư Bản Trong Thế Kỷ 21 (Capital in the Twenty-First Century) nhưng tóm gọn trong 2 câu nói dân gian là “nhà giàu ngày càng giàu” để rồi “con vua thì lại làm vua, con sãi ở chùa lại quét lá đa.”

Hố sâu giàu nghèo trong xã hội được san bằng sau khi trải qua một cơn đại biến như Trận Dịch Đen (khiến 200 triệu người chết vào tế kỷ 14) hay Đại Chiến (Thế Chiến Thứ Hai) tàn sát cả giới chủ lẫn người lao động. Vì tài sản bị hủy diệt cho nên chỉ còn lao động, trí tuệ và lương bổng của từng cá là những yếu tố chính để mỗi người tự vươn lên. Những người thành công sau đó lại bắt đầu sở hữu tài sản. Trong khi lương bổng không thể chuyển nhượng từ cha sang con thì tài sản lại trở thành gia tài nên lâu ngày tích tụ trở thành yếu tố chính phân biệt giàu nghèo trong xã hội. Tài sản (nhà đất, cổ phiếu, v.v…) còn được dùng làm Vốn Tư Bản (Capital) để đầu tư sinh lợi, và lợi tức từ tài sản có thể tăng nhanh hơn lương bổng (thí dụ giá nhà hay cổ phiếu có thể nhảy vọt 20% trong một năm trong khi lương chỉ tăng 5%). Một khi tài sản và lợi tức của xã hội tích tụ vào trong tay một thiểu số ưu đải thì lương bổng của đa số dân chúng còn lại không thể nào chạy theo kịp. Nói đơn giản nhà giàu ngày càng giàu.

Một thí dụ dễ hiểu là một gia đình có nhà trị giá 800 ngàn đô-la ở Saigon để lại gia tài thì con tự động giàu, trong khi một thanh niên khác từ quê lên học và làm việc dù tài giỏi bậc nào cũng không thể nào mơ mộng mua được nhà ở thành phố nếu chỉ với đồng lương vài ngàn đô-la mỗi tháng.

Tài sản lại sản sinh ra quyền lực bóp méo nhà nước nhằm ưu đãi thành phần chóp bu trong khi bỏ rơi đại đa số còn lại. Hố sâu giàu nghèo một khi trở nên sâu rộng sẽ đe dọa đến nền dân chủ do quyền lực bị tập trung và dân chúng bất mãn chống đối. Trở lại thí dụ ở Việt Nam có tiền thì cho con cái du học lấy bằng đại học Hoa Kỳ trong khi thanh niên học giỏi ở dưới quê cố hết sức thì cũng chỉ lấy được mãnh bằng kém giá trị trong nước. Cho nên “con vua thì lại làm vua, con sãi ở chùa lại quét lá đa.” Một khi lớp người ăn trên ngồi trước thụ hưỡng lợi tức của xã hội bằng thế lực và tài sản được hình thành – Piketty gọi đây là “rent seekers” tạm so sánh với những đại điền chủ không đi cày ruộng mà vẫn hưỡng lợi tức cao - thay vì bằng lao động và trí tuệ thì nền dân chủ lẫn hệ thống tư bản đều bị khủng hoảng.

Cánh tả ở Mỹ gồm hai ứng cử viên Tổng Thống ông Bernie Sander và bà Elizabeth Warren chủ trương đánh thuế tài sản (wealth tax) thay vì chỉ thu thuế lợi tức (income tax) để san bằng khoảng cách giàu nghèo. Tiền thuế được dùng đầu tư vào giáo dục, y tế và an sinh xã hội nhằm tạo cơ hội đồng đều cho đa số dân chúng còn lại.

Điểm mạnh của cánh tả ở chổ đề cập đến vấn nạn mà cánh hữu không hề nhắc đến tức tình trạng chênh lệch tài sản làm tăng khoảng cách giàu nghèo trong xã hội, và nếu kéo dài sẽ đe đọa đến nền dân chủ một khi quyền lực bị tập trung và dân chúng bất mãn nổi loạn. Hố sâu này còn đe dọa đến sức sống của nền tư bản khi cá nhân thành công nhờ vào thế lực và tài sản thay vì trông cậy vào lao động và trí tuệ của chính mình. Điểm yếu của cánh tả là chỉ đưa ra giải pháp tái phân phối tài sản (wealth distribution) qua thuế má - tức là theo kiểu xã hội chủ nghĩa - thay vì khuyến khích tạo ra tài sản (wealth creation) - tức là tư bản chủ nghĩa. Thành quả xã hội như chiếc bánh kinh tế không cần phân chia đồng đều mà phải tìm cách làm chiếc bánh nở to ra để mọi người có thêm phần trong đó. Thuế má càng cao thì người tài không có động cơ thúc đẩy làm giàu để tạo hàng triệu công ăn việc làm mới như trường hợp của các nhà tỷ phú Bill Gates (Microsoft), Jeff Bezzo (Amazon), Mark Zuckerberg (Facebook). Tài sản thu vào từ thuế má lại bị nhà nước tiêu xài phung phí khiến xã hội trở nên lười biến và ỷ lại dựa vào bổng lộc như y tế miễn phí, giáo dục miễn phí, giữ trẻ miễn phí, v.v… (cái gì cũng miễn phí thì dân chúng đừng có lo để nhà nước no) thay vì dùng tiền thuế đầu tư thúc đẩy dân chúng làm việc cho tương lai. Cho nên trong mùa tranh cử ứng viên nào đòi tăng thuế thì phải xem xét cẩn thận là tiền thuế để xài bậy (tax and spend) hay đầu tư (tax and invest) có hiệu quả, vì các chính trị gia chuyên mập mờ đánh lận con đen gọi tiêu xài là đầu tư.

Bài sau sẽ bàn về các yếu tố khách quan từ toàn cầu hóa khiến hố sâu giàu nghèo tăng vọt.

Tuesday, December 17, 2019

Mất cân bằng trong kinh tế toàn cầu: khoảng cách giàu nghèo trong xã hội (Bài 3)


Khoảng cách giàu nghèo ở Tây Phương hiện gây ra những cơn chấn động về chính trị nhưng thiết tưởng cần nhận biết chính xác triệu chứng nằm ở đâu rồi sau đó mới đi tìm nguyên do và phương thuốc giải quyết. Tuy hai ứng cử viên dẫn đầu trong cuộc bầu cử Tổng Thống 2020 là ông Bernie Sander và bà Elizabeth Warren cáo buột thành phần 1% chóp bu trong xã hội tóm gọn phần lớn tài sản trong nước nhưng đây là kiểu nhìn Mác-Xít hô hào giai cấp thợ thuyền đấu tranh chống giới chủ nhân, nông cạn mang đầy tính khích động quần chúng nên đã dẫn đến những chủ trương sai lầm như dùng sưu cao thuế nặng để trừng phạt và triệt hạ giới tỷ phú.

Trước hết phải thấy rằng tài sản được phân phối rất khác nhau giữa các nước Âu-Mỹ và những quốc gia đang mở mang. Bài viết này không rập theo khuông mẫu dùng trong kinh tế học mà dùng hình ảnh bình dân cho dễ hiểu:

-          Tại Việt Nam và Trung Quốc giàu nhất là các đại gia, rồi đến giới trung lưu trí thức và sau cùng gồm đám đông quần chúng công và nông dân. Thành phần lao động được xem thuộc diện nghèo.

-          Ở Hoa Kỳ trên cùng là con số 0.001% tỷ phú chóp bu; rồi đến thành phần ưu tú (luật sư, bác sĩ, tài chánh, ngân hàng v.v…); giới trung lưu trí thức (kỷ sư, thuế khoá, dịch vụ thương mại v.v…); sau đó là giới trung lưu-công nhân; rồi mới đến dân nghèo (nông nghiệp chỉ dùng 1.3% lao động tại Mỹ nên tạm thời không xếp hạng). Nhiều người nghèo nhiều không đi làm chỉ để nhận trợ cấp xã hội, cho nên bài này chỉ quan tâm đến thành phần muốn và sẳn sàng đi làm nhưng vẫn không đủ sống. Khủng hoảng chính trị xãy ra vì giai cấp trung lưu là nồng cốt cho nền dân chủ nhưng giới trung lưu-công nhân bị hạ lương hay mất việc do toàn cầu hóa và tự động hóa nên thụt xuống thứ hạng nghèo, và trong tương lai không xa khi một số ngành nghề trung lưu trí thức cũng sẽ bị đe dọa bởi điện toán hóa và trí tuệ nhân tạo.

Như vậy tại Việt Nam và Trung Quốc người lao động tranh đấu để tiến lên đời sống trung lưu. Riêng ở Hoa Lục 800 triệu người đã vượt ra khỏi ngưỡng cửa nghèo khó chỉ trong vòng 40 năm, con số còn lại tuy biết bị bóc lột nhưng vẫn sẵn sàng làm việc 12-14 tiếng mỗi ngày để bắt kịp. Nền kinh tế của các nước đang phát triển tăng trưởng giống như đoàn xe chạy lên đèo, tuy xe đầu vọt nhanh hơn xe cuối nhưng tất cả đều lên dốc. Trái lại ở Mỹ, Anh, Pháp giới trung lưu công nhân phật phòng lo sợ rơi xuống cảnh nghèo khi lương bổng và mức sống của họ chẳng những không tăng mà còn thụt lùi so với lạm phát. GDP của Hoa Kỳ tiến mạnh nhưng giống như chuyến tàu hỏa bị đứt mốc xích ở giữa nên hai toa đầu còn vọt lên nhanh hơn lúc trước trong khi các toa phía sau thụt lùi và bị bỏ rơi ngày càng xa.  Lèo lái hai khúc tàu không nối liền nhau còn hiểm nghèo hơn kéo cả một đoàn xe cùng lên dốc rất nhiều!

Vào những thập niên 1950-1970 công nhân Mỹ tuy không có bằng đại học nhưng làm việc trong các hảng Ford, GM, những nhà máy thép và than đá cũng có thể mua sắm nhà và xe hơi. Họ có công ăn việc làm bền vững trọn đời, nhận bảo hiểm sức khoẻ và khi về già sống bằng hưu bổng (pension) của công ty. Mọi người đều dự phần khi kinh tế tăng trưởng. Nhiều nhà kinh tế cho rằng rằng lãnh vực sản xuất (manufacturing) chính là cổ máy đưa những người tuy không cần học vấn cao nhưng vẫn tiến lên đời sống trung lưu, nhận xét này quan trọng vì trung lưu là nền tảng của dân chủ trong khi trong một nước không thể nào ai cũng có bằng đại học.

Nhưng đến giai đoạn hậu công nghiệp thì nền kinh tế chuyển đổi từ sản xuất (manufacturing) sang sáng tạo (innovation) và dịch vụ (services). Giới chuyên gia hô hào tự do thương mại toàn cầu sẽ nâng cao mức sống của mọi tầng lớp dân chúng một khi dây chuyền sáng tạo, sản xuất cho đến phân phối được hữu hiệu hóa và phân công phù hợp theo lợi thế của từng quốc gia. Hảng xưởng Tây Phương chạy theo toàn cầu hóa di dời từ Âu-Mỹ sang Đông Á nhằm khai thác nguồn nhân công rẻ, các quy định môi trường và luật lao động lỏng lẻo. Kết quả khiến thành phần trung lưu-công nhân ở Mỹ mất việc trở nên phẩn nộ cho rằng giới chủ nhân chỉ lao theo lợi nhuận mà bán đứng người lao động, trong khi nhà nước khờ dại ký kết vào các hiệp ước thương mại nhưng chỉ đem lại lợi ích bất tương xứng cho các nước đang phát triễn thay vì bảo vệ quyền lợi dân chúng Hoa Kỳ. Họ cho rằng chính quyền và giới thượng lưu đã gạt gẫm dân chúng khi rao bán rằng toàn cầu hóa mang lợi đồng đều đến cho mọi người, nhưng rồi sau đó cấu kết lẫn nhau để xây dựng một trật tự thương mại chỉ có lợi cho thành phần ưu tú mà thiệt hại cho giới trung lưu (the system is rigged) nên nay đã đến lúc phải bị gạt bỏ (drain the swamp) mà đặt quyền lợi của nước Mỹ trên hết (America First – dịch từ tiếng Anh theo ngôn ngữ rất hìệu quả của Trump để thu hút cử tri lao động). Nếu chính phủ Mỹ chấm dứt ưu đãi thuế má cho xí nghiệp đầu tư ra nước ngoài, đòi hỏi tiêu chuẩn về lao động và môi trường đồng đều ở các quốc gia cạnh tranh, chống phá giá đồng bạc, chống hàng rào thuế quan ngăn chận hàng mua từ Hoa Kỳ thì người công nhân ở Mỹ sẽ tìm lại lợi thế so với các nước đang phát triễn.

Trở lại với khoảng cách giàu nghèo ở Mỹ thì người công nhân mất việc không tìm ra mức lương tương đương trong các lãnh vực khác. Xã hội hậu công nghiệp chú trọng về sáng tạo và dịch vụ: sáng tạo đòi hỏi bằng cấp và trình độ kỷ thuật cao; lương bổng tốt chỉ có trong các dịch vụ chuyên môn như y tế, tài chánh, thợ điện, thợ ống nước, v.v… còn làm việc trong nhà hàng, chợ búa hay lái taxi chỉ là những công việc tạm bợ sống qua ngày với đồng lương tối thiểu chớ không thể xem là có nghề nghiệp và tương lai vững chắc.

Người lao động với đồng lương thấp không đủ trả tiền nhà, bảo hiểm y tế và giữ trẻ chớ đừng nói gì đến lo cho con cái lên đại học hay lúc tuổi già, cho nên giới trung lưu-công nhân phẩn nộ vì không thấy lối thoát cho chính họ và cho thế hệ tiếp nối. Tiền của trong xã hội không có chổ đầu tư vào lãnh vực sản xuất nội địa nên đổ đồn vào khu vực địa ốc và chứng khoáng giúp cho các tỷ phú, giới ưu tú và trung lưu trí thức trở nên giàu có hơn nhờ vào mua bán những tài sản loại này. Cho nên khoảng cách giàu nghèo tăng vọt không phải chỉ so với giới 0.001% tỷ phú chóp bu mà chính là giữa 20% phần trên 80% dân chúng còn lại.

Dân Mỹ không chống nhà giàu mà trái lại ngưỡng mộ các tỷ phú như Bill Gates (Microsoft) hay Jeff Bezzo (Amazon) vốn đã xây dựng sự nghiệp khổng lồ nhờ vào tài năng và trí óc. Thay vì trừng phạt nhà giàu thì nước Mỹ cần tạo môi trường để phát triễn thêm nhiều nhân tài và tỷ phú loại này để khai phá những lãnh vực mới, qua đó thúc đẩy kinh tế phát triển và tạo hàng triệu công ăn việc làm với mức lương cao. Cần phải giảm thuế để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư trong nước nhưng bít các lổ hỏng để người giàu không trốn tránh thuế má.

Nhà nước phải có chương trình đầu tư khổng lồ về hạ tầng để xử dụng nguồn nhân lực trong nước; cần lấp các lổ hổng trong những hiệp ước mậu dịch; phải hổ trợ giáo dục chuyên ngành như y tá, thợ sửa xe, thợ điện, v.v… chớ không thể hoàn toàn chú trọng vào bằng cấp 4 năm.

Tuy nhiên câu hỏi chính vẫn là trong giai đoạn hậu công nghiệp tìm đâu ra một cổ máy kinh tế nhằm thay thế khu vực sản xuất để đưa đa số quần chúng dù không có bằng đại học vẫn tiến vào được giai cấp trung lưu? Các chính sách thuế má, đầu tư, giáo dục sẽ như thế nào để thúc đẩy sự hình thành và phát triễn của cổ máy kinh tế này?

Đây sẽ là những vấn đề cho loạt bài sau. 


Thursday, December 12, 2019

Mất cân bằng trong kinh tế toàn cầu: khoảng cách giàu nghèo trong xã hội (Bài 2)


Khoảng cách giàu nghèo hiện đang là một trong các nguyên nhân chính làm chấn động nền chính trị ở Tây Phương, điển hình với Brexit ở Anh, phong trào áo vàng tại Pháp và Donald Trump đắc cử Tổng Thống ở Mỹ. Câu hỏi đặt ra là tại sao hố sâu giàu nghèo còn cách biệt hơn rất nhiều tại các nước đang phát triễn như Trung Quốc và Việt Nam nhưng lại không dẫn đến những xáo trộn tương tự như ở Âu-Mỹ?

Lý do thứ nhất vì khối quần chúng ở các nước đang phát triễn chưa đủ thế lực mạnh để làm thay đổi nền chính trị như tại Tây Phương cho nên những tiếng nói phản kháng thường bị dập tắt rất sớm.

Lý do thứ nhì khi cả nhà cầm quyền lẫn dân chúng ở các nước đang mở mang có được sự đồng thuận với gần 100% ủng hộ toàn cầu hóa. Ngược lại tại Anh, Pháp và Mỹ một con số không ít trong quần chúng hoặc chống đối hay đòi chậm lại tiến độ toàn cầu hóa vì cho rằng trào lưu này bị dàn dựng (rigged) chỉ có lợi cho thành phần thượng lưu trí thức (elite) mà thiệt hại cho công nhân, thợ thuyền và giới trung lưu. Chính sự đồng thuận nói trên ở các nước đang phát triển đã góp phần xây dựng ổn định xã hội vì ngay khi người dân tuy phản đối nhà cầm quyền nhưng phần nào đã tự giới hạn để những chống đối không cản trở tiến trình hội nhập vào thương mại toàn cầu. Trái lại tại Âu-Mỹ cả cánh tả lẫn hữu mạnh mẻ phản đối các hiệp ước thương mại quốc tế, việc hảng xưởng di dời sang nước ngoài, tình trạng xuất nhập khẩu mất quân bình và quy trách cho chính quyền về những thiệt hại mà giới công nhân và thợ thuyền phải gánh chịu khi bị thất nghiệp hay vì đồng lương không tăng từ 30 năm nay.

Lý do thứ ba liên quan đến móc ngoặc trong tiến trình công nghiệp hóa của một quốc gia được hoàn tất, thường gọi Lewis Turning Point (LTP) trong kinh tế. LTP là khúc quanh khi nguồn nhân lực chuyển đổi từ nông nghiệp sang công nghiệp bắt đầu cạn dần. Một thí dụ tại Việt Nam hiện trong thời kỳ tiền LTP khi dân chúng thôn quê đổ dồn về thành thị đi tìm công ăn việc làm với thu nhập khá hơn so với canh tác. Khi số người tìm việc với doanh nghiệp tăng thì cung nhiều hơn cầu nên công nhân ở vào thế yếu nếu tranh đấu đòi tăng lương và cải thiện đời sống. Trường hợp này từng xảy ra ở Âu-Mỹ cuối thế kỷ 19 và đầu thế kỷ 20. Nhưng khi nguồn nhân lực đến từ nông thôn cạn dần, tức là đi vào ngã tẻ LTP như ở Trung Quốc hiện nay thì cung giảm dần so với cầu. Lúc đó công nhân ở thế mạnh để đòi lương cao và được hưỡng các quyền lợi an sinh xã hội bằng cách đình công hay qua công đoàn. Giai đoạn hậu LTP từng xãy ra ở Mỹ vào thập niên 1930-1950, Âu Châu 1950-1960, Nhật 1960-1970 và Nam Hàn, Đài Loan 1980-1990. Vào thời điểm hậu LTP người công nhân không cần đến bằng cấp cao nhưng vẫn có được mức sống trung lưu, thí dụ vào những năm 1960 thợ thuyền làm việc trong dây chuyền sản xuất của các hảng Ford hay GM tại Mỹ vẫn mua được nhà, xe hơi, được bảo đảm y tế sức khỏe và lương hưu trí (pension).

Ngược lại Âu-Mỹ hiện nằm trong chu kỳ hậu công nghiệp với tự động hóa đi đôi theo sản xuất di dời sang các nước đang mở mang. Trước đây vào giai đoạn hậu LTP người công nhân dù không có bằng cấp cao vẫn được trả đồng lương đủ cho sống đời trung lưu, nhưng nay trong chu kỳ hậu công nghiệp thì học vấn và trình độ chuyên môn là hai yếu tố quyết định cho sự thành công. Cơ xưởng sản xuất bị đóng cửa và di dời ra nước ngoài để xử dụng nguồn nhân công giá rẻ và tay nghề thấp ở nước ngoài khiến giới trung lưu-công nhân Tây Phương bị tụt hậu so với thành phần trung lưu-học vấn. Các ngành nghề dịch vụ tuy nở rộ nhưng lương bổng không bằng sản xuất. Điều này dẫn đến sự phẩn nộ trong thành phần dân chúng không có bằng đại học do không tìm ra việc làm thay thế với mức sống tương đương trước khi hãng xưởng bị đóng cửa. Vì giới trung lưu là nền tảng của xã hội dân chủ nên tình trạng sói mòn của tầng lớp này tạo ra nhiều xáo trộn chính trị, và là nguyên nhân dẫn đến các trào lưu dân túy cánh tả chống doanh nghiệp, hay tâm lý bảo hộ và bài ngoại trong cánh hữu ở Tây Phương.

Nói tóm lại tại Ấn Độ, Việt Nam, Trung Quốc cuộc sống của mọi người đều cải thiện dù nhanh chậm khác nhau; tại Hoa Kỳ và vài nước Tây Phương mức sống của giới trung lưu–công nhân chẳng những không tiến mà còn thụt hậu so với các tầng lớp khác, cho nên họ bi quan và phẩn nộ do không tìm ra lối thoát. Hoa Kỳ là nước hậu công nghiệp duy nhất với tuổi thọ của thành phần lao động da trắng sút giảm trong vòng 10 năm nay bởi tâm trạng lo buồn, bất mãn và bất lực.

Những bài sau sẽ phân tích nhiều hơn về các giai đoạn tiền LTP, hậu LTP và hậu công nghiệp.