Sunday, July 14, 2019

Khoảng cách giàu nghèo trong nước Mỹ - Phần 2


Khoảng cách giàu nghèo hiện tăng vọt không chỉ ở Mỹ mà còn tệ hại hơn nhiều tại các nước bao gồm Ấn Độ, Trung Hoa, Việt Nam v.v… nhưng bài này chỉ viết về Hoa Kỳ. Khi nói đến chênh lệch giàu nghèo ở Mỹ ngày nay không thể giải thích bằng chủ nghĩa Mác của giai cấp chủ nhân bóc lột thợ thuyền,  mà chính yếu bắt nguồn từ cấu trúc xã hội không thay đổi kịp theo đà phát triển của hai trào lưu toàn cầu hóa và điện toán hóa.
                                                                                                 
Tài sản của 0.1% những người giàu nhất nước Mỹ hiện bằng 90% dân chúng dưới cùng gộp lại [1]. Khoảng cách thu nhập giữa thiểu số giàu và  đa số còn lại cách xa nhất kể từ năm 1928, tức là trước cuộc Đại Khủng Hoảng 1929 [2]. Điều này khiến quần chúng phẫn nộ dẫn đến cao trào dân túy của Tổng Thống Donald Trump thuộc cánh hữu, cùng sự bộc phát của khuynh hướng xã hội bên cánh tả mà tiêu biểu là ứng cứ viên Tổng Thống Bernie Sanders. Tình trạng nói trên làm rạn nứt xã hội và thách thức đến chính nền tảng dân chủ của Hoa Kỳ. Bài viết này phân tích những nguyên nhân khiến chênh lệch giàu nghèo nhảy vọt như vậy, mà nhìn chung là đến từ toàn cầu hóa, điện toán hóa và cấu trúc xã hội.

  1. Lý do thứ nhất khi xã hội thông tin toàn cầu ngày nay tạo cơ hội cho hiện tượng “winner takes all” tức là phần thưởng dành trọn vẹn cho kẻ thắng cuộc. Chẳng hạn đại đa số mọi người đều dùng Google, Facebook, Amazon nên những công ty này bỏ rất xa các đối thủ cạnh tranh còn lại. Mức thu nhập của một danh ca hạng nhất như Lady Gaga hay Taylor Swift triệu lần nhiều hơn hàng ngàn ban nhạc kém nổi tiếng khác. Lương bổng của một CEO trung bình cao gấp 361 lần công nhân viên [3]. Dù không ai bóc lột ai nhưng lợi tức xã hội tập trung vào một thiểu số rất ít thành phần ưu tú (elites) mà bỏ rơi rất xa đa số còn lại.

  1. Vào giữa thế kỷ 20 một hảng chế tạo xe hơi như GM thuê hàng trăm ngàn công nhân thợ thuyền với mức lương đủ để sống trong giới trung lưu cho dù không có trình độ đại học. Ngày nay những công ty như Google và Facebook không cần đến lao động chân tay (blue collar) trong khi Amazon và Walmart mướn hàng trăm ngàn nhân viên nơi các trạm trung chuyển nhưng chỉ với đồng lương tối thiểu (minimum wage). Như vậy xã hội khi điện toán hóa ưu đãi thành phần chuyên viên học thức mà bỏ rơi những người không có tay nghề cao.

  1. Công nhân của GM, Ford trước đây khi về già sống thoải mái nhờ vào lương hưu trí (pension). Ngày nay chế độ pension gần như chấm dứt, hàng chục triệu người Mỹ với mức lương thấp không đóng đủ vào các quỹ hưu trí cá nhân (401K hay IRA) nên không có tiền để nghĩ hưu hoặc phải dựa vào trợ cấp xã hội.

  1. Khoảng cách giàu nghèo một phần do lương bổng nhưng phần lớn nhờ vào đầu tư tích lũy đất đai, địa ốc và chứng khoán [4][5]. Thí dụ mức lương ở Texas và Cali không cách xa nhau, nhưng nếu mua nhà thì sau 30 năm ở Cali sẽ hơn Texas rất nhiều. Những ai đầu tư tích lũy địa ốc và chứng khoáng ngày càng giàu hơn trong lúc số còn lại thụt lùi hay dậm chân tại chổ. Trong vòng 40 năm nay mức lương trung bình của người dân Mỹ không tăng nếu tính sau lạm phát [6] trong khi giá trị cổ phiếu và nhà đất tăng vọt, nhất là ở các trung tâm thương mại vùng Cali, New YorkWashington DC. Khoảng 20% dân Mỹ sống ở ven hai bờ biển Đông Bắc và Tây Hoa Kỳ nhưng gặt hái gần hết những thành quả kinh tế mà bỏ rơi số đông ở các tiểu bang còn lại.

  1. Lương bổng nhiều ít tùy thuộc vào năng xuất lao động của từng cá nhân trong khi tài sản đất đai, địa ốc và chứng khoán tích lũy từ thế hệ này sang thế hệ khác. Tình trạng này nếu kéo dài sẽ tạo thành chế độ giai cấp vốn là hiểm họa cho nền dân chủ và tính lưu động (mobility) trong xã hội tư bản, ngày nào “con vua thì lại làm vua, con sãi ở chùa lại quét lá đa.”

  1. Phân tích tiếp về vấn đề hương hỏa ngày xưa các điền chủ có hàng chục đứa con nên khi chết ruộng đất bị cắt manh múng nhỏ dần cho từng gia đình nên là một hình thức giảm bớt giàu nghèo. Trái lại giờ đây những gia đình giàu có và trung lưu ở các thành phố lớn thường chỉ có 1 hay 2 người con nên gia tài nếu tích lũy sau vài thế hệ sẽ tăng lũy tiến, tạo ra hố sâu với mọi thành phần còn lại.

  1. Trường học giỏi và công ăn việc làm tốt tập trung vào các trung tâm thương mại như Cali, Boston, New York, Washington DC. Giá sinh hoạt tại những khu vực thị tứ này vô cùng đắt đỏ nên người dân ở những tiểu bang khác sẽ không đủ tiền để dọn về tìm cơ hội mới. Cho nên con cái những gia đình ở miền Tây và Đông Bắc Hoa Kỳ có nhiều triển vọng thăng tiến (cho dù cuộc sống chật vật) trong khi mọi người dân còn lại không có hy vọng tiến thân.

  1. Tiền và quyền lực đi đôi với nhau. Amazon là một trong những công ty lớn nhất nước Mỹ chẳng những luồn lách để không trả thuế mà lại còn được hưỡng ưu đãi nhà nước (tax incentives) mỗi khi muốn khuếch trương sang một khu vực nào. Người Mỹ gọi đây là corporate welfare.

  1. Giới tư bản có corporate welfare còn nhà nghèo hưởng social welfare (trợ cấp xã hội). Cả hai đều không đóng thuế nên chỉ có thành phần trung lưu đóng thuế nuôi cả hai đầu nên rốt cuộc ngày càng…nghèo. Người Mỹ là giới trung lưu bị rút ruột (hollowing the middle class) trong khi giai cấp trung lưu chính là nền tảng của xã hội dân sự và dân chủ.

  1. Trong 20 năm nay nhà đất và chứng khoáng tăng vọt chủ yếu là nhờ Ngân Hàng Trung Ương cho hạ lãi suất để khuếch trương tín dụng (loose monetary policy). Chính sách này lợi nhiều cho những người có nhiều tài sản trong khi không giúp nhà nghèo thoát khỏi cảnh túng quẫn.


Nói chung trừ vài nước nhỏ ít dân như Thụy Sĩ hay Singapore nơi mà đa số có bằng đại học, những quốc gia còn lại đều chia ra một thành phần chuyên môn trong khi đa số còn lại không cần bằng đại học. Thách thức tại Mỹ và Âu Châu là xã hội điện toán hóa ưu đãi giới chuyên gia trí tuệ trong khi toàn cầu hóa mang công việc sản xuất sang những quốc gia có mức lương thấp. Kết quả là thành quả xã hội đổ dồn vào thành phần ưu tú mà bỏ rơi giai cấp công nhân thợ thuyền.

***

[1] Warren: Top 0.1% own about as much as the bottom 90% - Politifact 01/31/2019

[5] Các quỹ hưu trí (401K, IRA) cũng là một hình thức đầu tư chứng khoán

[6] For most U.S. workers, real wages have barely budged in decades – Pew Research Center 08/07/2019



Wednesday, July 10, 2019

Việt Nam trong The Art Of The Deal, hay sách “Nghệ Thuật Đàm Phán” của Donald Trump


Báo chí Hoa Kỳ đều nhận xét Việt Nam là nước hưởng lợi nhiều nhất trong thương chiến Mỹ-Trung. Do đó một độc giả đã phê bình ngắn gọn trên tờ New York Times rằng chiến tranh thương mại nhằm tạo công ăn việc làm cho dân Mỹ chớ không phải cho Việt Nam, và như vậy khẩu hiệu “American First” nước Mỹ trên hết của Donald Trump đang đi lạc hướng.

Một điều đáng ghi nhận là ông Trump rất nhạy cảm với tâm lý quần chúng loại này để khích động phong trào dân túy nhất là khi đang chuẩn bị cho cuộc bầu cử năm 2020. Cho nên một mặt Trump cảnh báo Việt Nam đã lợi dụng Hoa Kỳ tệ hại hơn cả Trung Quốc (“Vietnam takes advantage of us even worse than China") nhưng đồng thời vẫn khen Việt Nam mua nhiều than đá của tiểu bang West Virginia (Trump did acknowledge that Vietnam was a large buyer of West Virginian coal, “which makes me happy.” – Market Watch 06/26/2019). Đây là một trong những tiểu bang nghèo nhất nước Mỹ nơi một số đông dân chúng làm việc trong các mỏ than; nhiều người bị thất nghiệp khi Hoa Kỳ không sản xuất than nhằm giảm biến đổi khí hậu dưới thời Obama. Năm 2016 đã có 68.5% dân chúng West Virginia bỏ phiếu cho Trump.

Để hiểu phát biểu có vẻ mâu thuẩn của Trump đối với Việt Nam cần đọc chương “The Cincinnati Kid” trong quyển “The Art Of The Deal” của tác giả. Trump kể lại ông biết rõ một người quản lý chung cư tên Irving chuyên ăn cắp nhưng không đuổi việc mà vẫn dùng vì tên này biết cách hù doạ đòi tiền những người thuê nhà nên mang lại nhiều lợi lộc cho Trump hơn những gì bị đánh cắp (tức là dụng nhân như dụng mộc.) Trong buổi phỏng vấn với đài Fox News Trump không dùng ngôn ngữ ngoại giao mà nói trắng ra rằng ông cũng biết Việt Nam gian lận nên tốt hơn Việt Nam phải mang lợi cho ông nhiều lần lớn hơn. Mua than đá của Hoa Kỳ là giúp đỡ cho tiểu bang West Virginia vốn đã bỏ phiếu cho Trump năm 2016, và sẽ bỏ phiếu cho Trump năm 2020.

Kẻ cắp gặp bà già: giới cầm quyền tại Việt Nam cũng quen thuộc với nghệ thuật bôi trơn nên mỗi lần họp thượng đỉnh đều mang các hợp đồng thương mại ra làm xoa dịu đối phương. Đồng tiền đi trước là đồng tiền khôn nên lần đầu gặp Trump vào tháng 05/2017 thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã hứa hẹn 15 tỷ USD mua hàng từ Mỹ (nhưng Bộ Thương Mại Hoa Kỳ cho biết con số thật sự thấp hơn rất nhiều [1].) Tháng 02/2019 Nguyễn Phú Trọng lại công bố hợp đồng 20 tỷ USD mua máy bay Boeing nhân dịp Trump sang Việt Nam để gặp lãnh tụ Bắc Hàn Kim Jong Ung [2]. Nay chỉ trong 5 tháng đầu năm Hoa Kỳ thâm thủng mậu dịch 21.59 tỷ USD với Việt Nam [3] thì Nguyễn Phú Trọng phải chuẩn bị nhiều hợp đồng béo bở khác trong kỳ công du qua Mỹ tới đây nhằm xoa dịu đối phương và…giúp cho Trump trong mùa bầu cử: chẳng hạn như mua nông phẩm của Ohio, than đá ở West Virginia, máy bay dân sự Boeing 787 từ Alabama và máy bay chiến đấu F-16 ở Texas thì rất tốt - bốn tiểu bang này đều bỏ phiếu cho Trump năm 2016.

***

[1] Trump hails deals worth 'billions' with Vietnam – Reuters 05/31/2017

[2] Trump hails $20 billion in Boeing orders by Vietnam – Politico 02/27/2019

[3] US Trade Numbers – Vietnam.

https://www.ustradenumbers.com/country/vietnam/

 

 


Thursday, July 4, 2019

Khoảng cách giàu nghèo trong nước Mỹ


Tư tưởng xã hội tưởng chừng đã phá sản cùng với sự xụp đổ của khối Xô-Viết nhưng bất ngờ bùng phát mạnh mẽ tại Hoa Kỳ và nhiều nước Âu Châu. Hai nhân vật cánh tả nổi tiếng nhất hiện nay là ông Bernie Sander, người tự nhận thuộc thành phần dân chủ xã hội (social democrat) và bà Elizabeth Warren vốn đưa ra nhiều chương trình cải tổ khuyết điểm của nền kinh tế tư bản. Bên cánh hữu Tổng Thống Donald Trump cũng khích động cao trào dân túy với câu nói “the system is rigged” tức là hệ thống xã hội đang bị giàn dựng chỉ có lợi cho thiểu số tinh hoa ưu tú (the elites) mà thiệt hại cho đa số dân Mỹ.

Cả ba nhân vật nói trên đều phản ảnh một thực tế rằng nền tư bản Hoa Kỳ trong giai đoạn toàn cầu hóa đã tạo ra một xã hội thiếu cân bằng trong đó khoảng cách giàu nghèo chênh lệch quá mức. Tiền của đem lại quyền lực cho nên nền dân chủ bị bóp méo để bảo vệ quyền lợi của tầng lớp tinh hoa ưu tú (elites) thay vì nâng đỡ cho đa số dân chúng trong nước. Vì nhiều người có dị ứng khi nhắc đến chênh lệch giàu nghèo vì e sợ cộng sản hay đấu tranh giai cấp theo kiểu Mác-Xít nên thiết tưởng chúng ta cần nhận diện thế nào là giàu hay nghèo trong nước Mỹ. Có năm góc cạnh trong vấn đề này:

  1. Điểm thứ nhất cho thấy trong vòng 30 năm nay lợi ích kinh tế đổ dồn vào thiểu số 1% những người giàu nhất ở Hoa Kỳ (có từ 10 triệu USD trở lên [1]). Tài sản của họ tăng lên 21 ngàn tỷ USD trong khi người nghèo chiếm 50% đa số lại thua thiệt mất 900 tỷ USD [2][3].

  1. Góc cạnh thứ nhì cho thấy thành quả kinh tế tập trung nơi các đô thị lớn nằm dọc theo ven biển miền Tây, miền Nam và phía Đông Bắc mà bỏ rơi những tiểu bang còn lại. Kết quả là 20% dân chúng sống quanh những trung tâm kinh tế như Seattle, San Francisco, Los Angles, New York, Washington DC, Houston trở nên sung túc và ngày càng bỏ xa 80% dân chúng sống rãi rác trên những vùng đất mênh mông của Hoa Kỳ [4]

  1. Giàu nghèo một phần do lương bổng cao thấp khác nhau, nhưng chủ yếu nhờ vào đầu tư đất đai, địa ốc và chứng khoáng [3][5]. Điều này dễ nhận ra khi chúng ta quan sát dân cư sống ở các thành phố lớn lương tuy cao nhưng đời sống đắt đỏ, nhưng họ trở nên giàu có nhờ đầu tư vào nhà đất hay cổ phiếu. Chỉ 20% người Mỹ thường là ở các thành phố lớn mới mua chứng khoáng ở con số đáng kể so với tài sản. Trong khi đó giá nhà đất ở CaliNew York tăng vọt so với tất cả những tiểu bang khác. Kết quả là dân chúng sống tập trung ở hai dải đất hẹp nằm dọc theo bờ biển Tây và Đông Bắc nước Mỹ qua mặt rất xa số còn lại sống rãi rác ở những vùng đất mênh mông còn lại.

  1. Trái với tài năng và sức lao động vốn tùy thuộc vào mỗi người trong khi đất đai, địa ốc và chứng khoáng có thể được thừa hưởng từ thế hệ này sang thế hệ khác. Vì tích lũy tư bản (nhà đất và cổ phiếu) làm giàu nhanh nhất nên nẩy sinh thành tình trạng phân chia đẳng cấp theo kiểu “con vua thì lại làm vua, con sãi ở chùa lại quét lá đa.” Người Mỹ gọi đây là generational wealth rất nguy hại cho nền dân chủ.

  1. Các trường đại học danh tiếng (Harvard, Standford, Berkeley v.v…) và trụ sở chính của những đại công ty (Google, Bank of America, Exxon v.v…) chỉ hiện diện ở miền Tây, Nam và Đông Bắc Hoa Kỳ. Hậu quả là những gia đình ở Cali, Washington DC, New York, v.v… có nhiều cơ hội cho con cái đi học trường giỏi để sau này trở thành người lãnh đạo trong guồng máy chính trị và kinh tế, trong khi tuổi trẻ ở các tiểu bang còn lại không có con đường thăng tiến. Ít có gia đình nào đủ phương tiện tài chánh để dọn nhà sang ở các khu vực nói trên vì giá sinh hoạt quá cao (trừ khi đã có sẵn trình độ chuyên môn cao). Việc này cản trở tính cơ động trong xã hội (social mobility) vốn là điều mà nước Mỹ thường tự hào rằng một người bình thường cũng có thể trở nên giàu có nếu đủ tài năng và chịu khó làm việc.


Những điểm nói trên giải thích tại sao GDP của Hoa Kỳ tăng trưởng mà người Mỹ bất mãn. Lý do vì thành quả kinh tế tập trung vào 1% thành phần giàu nhất hay nơi 20% dân chúng sống ở ven biển miền Tây, vùng Đông Bắc và miền Nam nước Mỹ - tùy theo hai cách nhìn khác nhau. Trong khi đó 50% các gia đình nghèo và trung bình vừa lo sợ mất việc do tự động hóa và toàn cầu hóa, lương giảm vì khó tìm việc làm tốt trong khi nhà cửa tụt giá ở những vùng không phát triễn. Khoảng cách này ngày thêm sâu rộng khiến đa số người Mỹ bi quan cho rằng đời sống con cái họ sẽ không được cải thiện mà chỉ trở nên khó khăn hơn. Trận suy thoái kinh tế năm 2008 là ngòi lửa làm nổ bùng tâm lý phẩn nộ, nay được cả cánh hữu của Donald Trump khích động thành trào lưu dân túy và cánh tả của Bernie Sanders thu hút giới trẻ đòi hỏi những biến đổi sâu rộng theo chiều hướng xã hội.


Người Mỹ gốc Việt sống tập trung ở CaliWashington DC khi mới qua được nhiều ưu đãi, chịu khó cần cù làm việc lại khuyến khích con cái học ở trường tốt nên lương cao, thường hay đầu tư vào nhà đất vào chứng khoáng. Kết quả là không ít gia đình người Mỹ gốc Việt nay thuộc tầng lớp tinh hoa ưu tú nằm trong lớp 10-15% giàu nhất Hoa Kỳ. Nay cuộc tranh luận về giàu nghèo trong nước Mỹ, những thách thức cho nền dân chủ và cuộc bầu cử năm 2020 không còn là các vấn đề xa xôi trừu tượng mà sẽ ảnh hưởng đến quyền lợi và an sinh của người Mỹ gốc Việt, cũng như đặt vấn đề cho người Mỹ gốc Việt cần góp trả (payback) cho đất nước này như thế nào sau khi đã thành công.


***

 

[1] United States Net Worth Brackets, Percentiles, and Top One Percent – DQYDJ


[2] Compare Wealth Components across Groups – Federal Reserve

[3] A message from the Billionaire’s Club – New York Times 06/24/2019.

[4] Dems, Please Don’t Drive Me Away – New York Times 06/28/2019

[5] Capital in the 21st Century – Thomas Piketty

Friday, June 28, 2019

K-Pop: một hiện tượng văn hóa toàn cầu


Nếu có một cuộc “xâm lược” văn hóa vào đầu thế kỷ thứ 21 phải kể đến K-Drama (phim bộ Hàn Quốc) hiện chinh phục Đông-Á, Trung-Đông và Nam-Mỹ, rồi tiếp theo đó là K-Pop nay lan tràn sang đến Âu-Châu và Hoa Kỳ.

Nhưng nội dung phim bộ Hàn Quốc còn chứa đựng mô thức cổ điển đầy nước mắt và hỉ nộ ái ố dục lạc của điện ảnh Hồng Kông và Đài Loan. Còn K-Pop mới thật sự là một cuộc cách mạng làm thay đổi cách nhìn của thế giới rằng đất nước Hàn Quốc ngày nay rất “cool”. Lần đầu tiên trong lịch sử nhân loại một quốc gia không phải Âu-Mỹ được giới trẻ tán thưởng là “cool”.

Chử “cool” khó dịch vì bao hàm nhiều dáng vẻ như xịnh, trẻ trung, chịu chơi, tức là khác xa với hình ảnh về người dân Hàn Quốc trước đây: đàn ông Hàn thô bạo thiếu lịch sự với phụ nữ, phụ nữ Hàn thì…không đẹp bằng đàn bà Việt Nam (hình như phụ nữ nước nào cũng thường tự xem mình đẹp nhất!)

Làn sóng K-Pop đã thay đổi thương hiệu của nước Hàn để trở thành “cool” - người Mỹ gọi là rebranding. K-Pop nâng cao giá trị của các sản phẩm từ Hàn Quốc như điện thoại Samsung hay xe hơi Huyndai để trở nên hấp dẫn đối với giới trẻ toàn cầu. Tương tự như K-Drama hay phim bộ Hàn Quốc vốn quảng cáo cho ngành mỹ phẩm và kỷ nghệ sửa sắc đẹp, sử dụng sản phẩm Hàn Quốc nay là “cool”. Cũng giống như mặc quần Jean, uống cà-phê Starbuck hay du học Mỹ là “cool”; uống rượu vang và du lịch Pháp là “cool”; lái xe BMW hay Mercedes của Đức là “cool”.

Đây chính là bài học về quyền lực mềm của Hoa Kỳ mà thế giới đang theo học. Thành quả không chỉ giới hạn về chính trị hay ngoại giao mà còn vô cùng lợi ích cho thương mại. Quyền lực mềm chính là thương hiệu của một quốc gia.

Khác với Mỹ nơi mà phim ảnh và âm nhạc xuất phát từ lãnh vực tư nhân rồi xuất cảng ra khắp thế giới, sự thành công của K-Pop và phim bộ Hàn Quốc là kết quả của việc phối hợp giữa nhà nước và các doanh nghiệp. Hàn Quốc có Bộ Văn Hóa với ngân sách trên 1 tỷ USD cộng thêm tiền đóng góp nhiều lần lớn hơn từ các đại tập đoàn Chaebol nhằm đặt ra kế hoạch 5 năm gồm: tuyển lựa và huấn luyện tài năng; nghiên cứu thị trường nước ngoài ở Nhật, Đông Nam Á, Trung Đông; phối hợp quảng cáo qua các toà Đại Sứ và văn phòng Thương Mại Hàn Quốc ở nước ngoài; chuẩn bị loại phim bộ cực ngắn (10-15 phút mỗi tập) cho thích hợp với các điện thoại cầm tay của Samsung và LG; nghiên cứu các dự án tương lai gồm K-Movie, K-Video Game, sân khấu 3 chiều (3-D stage) để các danh tài Hàn Quốc có thể cùng một lúc trình diễn khắp thế giới trong tương lai.

Điều này không khác với các kế hoạch quốc gia phối hợp công-tư nhằm tuyển chọn, huấn luyện và sau đó khai dụng những nhân tài thể thao như trường hợp cô Yuna Kim huy chương vàng Thế Vận Hội vốn đã tạo thương hiệu cho các dụng cụ trượt tuyết tại Nam Hàm từ năm 2010. Hàn Quốc hiện có kế hoạch quốc gia để khai thác sức mạnh tổng hợp (synergy) giữa các ngành công nghệ điện tử (Samsung, Huyndai, LG), mỹ phẩm và sửa sắc đẹp, giải trí (K-Drama, K-Pop, K-Movie, K-Video Game), thực phẩm (bánh ngọt, gà chiên), thể thao và dụng cụ thể thao.

Xét cho cùng thì K-Pop và phim bộ không phải là những sản phẩm văn hóa vì không nhằm giới thiệu văn chương, triết học hay tôn giáo của một dân tộc. Trái lại mục tiêu chỉ để quảng bá thương hiệu Hàn Quốc. Quyền lực mềm của Hoa Kỳ rộng lớn hơn vì không chỉ giới hạn vào Hollywood, McDonald, Google mà bao gồm cả những tư tưởng về dân chủ, tự do, nhân quyền, hợp tác quốc tế v.v…

Trung Quốc hiện đang quảng bá nền văn hóa Hán với các Viện Khổng Tử được xây dựng nhiều nơi trên thế giới (theo mô hình của Viện Goethe của Đức) nhưng không thành công. Các dân tộc Á Đông thường học lẫn nhau, người Hoa lại rất thực tế nên họ cũng đang nghiên cứu và đầu tư để thay đổi mô hình quảng cáo cho thương hiệu thay vì văn hóa Trung Quốc. Biết đâu một ngày nào đó ở Việt Nam nói đệm tiếng Tàu, nhảy múa điệu Tàu, lấy chồng Tàu mới lại là “cool”.


Saturday, June 22, 2019

Angela Merkel: nước Đức trên hết


Bà Thủ Tướng nước Đức Angela Merkel thường được ca ngợi như thành trì của chủ nghĩa hợp tác đa phương (multilateralism) sau vụ Brexit và Trump đắc cử năm 2016. Nhưng nếu nhìn kỹ trong 14 năm cầm quyền bà Merkel đã thực hiện chính sách Nước Đức Trên Hết nhằm bảo vệ quyền lợi của Đức nhưng rạn nứt sự đoàn kết trong nội bộ Âu Châu, khối Euro và NATO. 

Tiêu biểu là các nước trong NATO cam kết chi tiêu 2% GDP cho quốc phòng nhưng nước Đức liên tục thất hứa chỉ dành 1.5 % GDP vào quân đội. Năm 2014 khi Nga tấn công Ukraine và đe dọa hòa bình ổn định của Âu Châu thì chính phủ Merkel lại cắt thêm 25% ngân sách quốc phòng, đến mức Obama phải than phiền rằng nhiều nước Âu Châu “ăn có” (free rider) trông cậy vào chiếc dù an ninh của Mỹ mà không chịu chi tiền [1]. Kết quả là phi cơ chiến đấu không được bảo trì, nhân sự không được huấn luyện, quân đội Đức trở nên hèn yếu [2] 


Đến thời Donald Trump bị thúc giục ráo riết nên Đức cam kết sẽ tăng ngân sách quốc phòng nhưng với nhịp độ từ từ và chậm rải để đạt đến 2% GDP vào năm 2024 (!). Nay Đức lại cắt giảm chi phí quân sự trong 3 năm 2019-2021 [3], vậy mà Bộ Ngoại Giao vẫn chày chối biện hộ rằng ngân sách tuy “khó hiểu” nhưng Đức vẫn giữ đúng các cam kết với đồng minh [4]. Mỹ phải tự hỏi nếu Âu Châu cảm thấy không cần thiết để chi tiêu cho NATO thì tại sao dân chúng Hoa Kỳ phải đóng thuế để duy trì mối liên minh quân sự lổi thời này?


Điểm thứ nhì khi Đức hợp tác với Nga xây đuờng ống dẫn khí đốt Nordstream 2 cho dù gặp sự phản đối mạnh mẻ của các đồng minh Hoa Kỳ và nhiều nước Âu Châu như Ba Lan và Ukraine. Hợp đồng giữa Đức và Nga được ký kết vội vã năm 2005. Đến năm 2014 Nga tấn công Ukraine, nhưng dù Nga trở thành mối đe dọa cho hòa bình và ổn định của Âu-Châu tuy vậy Đức vẫn không hủy bỏ hợp đồng để trừng phạt thái độ xâm lăng của Nga. Các nước Âu Châu e sợ (a) Nga thu thêm ngoại tệ nhờ bán khí đốt để duy trì chế độ Putin, và (b) Nga sử dụng khí đốt như vũ khí chiến lược nhằm áp lực Âu châu trong trường hợp một cuộc khủng hoảng mới xảy ra, nhưng chính quyền Merkel vẫn khăng khăng không thay đổi lập trường cho dù bị công kích kịch liệt.

Tóm lại chính sách của Đức đối với NATO và Nga là hưỡng lợi hai đầu: không tăng ngân sách quốc phòng vì nay đã có Ba-Lan và Tiệp Khắc làm tấm bình phong che gió bão từ Nga, trong khi tiếp tục mua khí đốt từ Nga cho lợi ích kinh tế.

Điểm thứ ba trong thời gian khủng hoảng đồng Euro, Đức là nền kinh tế mạnh nhất Âu Châu nên áp lực lên ECB (Ngân Hàng Trung Ương Âu Châu) áp đặt chính sách khắc khổ khiến các nước Hy Lạp, Tây Ban Nha và Ý gần như kiệt quệ. Kinh tế Nam Âu suy sụp làm đồng Euro tuột giá. Đức lại hưỡng lợi được hai đầu khi xuất cảng tăng nhờ Euro mất giá; đồng thời Đức lại có thể mượn tiền với phân lời rẻ mạt vì nhiều người muốn gởi tiền an toàn vào nền kinh tế mạnh nhất Âu Châu. Nguy cơ cuộc chiến tiền tệ nay lại tăng lên khi ECB vừa cho biết sẽ hạ thấp thêm phân lời nhưng vì đó khiến đồng đô-la Mỹ tăng giá (do phân lời ở Hoa Kỳ cao hơn Âu Châu) khiến giá hàng xuất cảng của Mỹ trở nên đắt đỏ hơn [5].

Điểm thư tư vào năm 2015 bà Merkel đơn độc quyết định mở cửa đón nhận 1.5 triệu người tỵ nạn từ Syria. Cho dù nay bà Merkel nay bị quá nhiều áp lực nên phải thay đổi chính sách nhưng quyết định vội vả và đơn phương này đã làm nổ bùng làn sóng chống di dân, trực tiếp tạo nhiều chia rẽ khiến phong trào dân xã tại Đức và dân túy ở các nước Âu Châu rầm rộ nổi lên.

Cuối cùng, chính quyền Merkel hiện nay là một nhà nước yếu vì không kết hợp được với các đảng phái khác để tạo đa số cầm quyền. Nhưng một nhà nước yếu lại phù hợp với các tính toán của bà Merkel vì Đức tránh né được các quyết định táo bạo cần thiết nhằm ổn định NATO, khu vực Euro và Âu Châu.

Cựu Thủ Tướng Đức Helmut Kohl vốn là cha đẻ của đồng Euro và việc tái thống nhất nước Đức đã than phiền (nhưng sau đó ông chối) “Chính bà này (Merkel) đang phá nát Âu Châu” (This girl (Merkel) is destroying my Europe [5]). Bà Merkel theo chủ nghĩa quốc tế hợp tác đa phương (international multilateral partnership) chỉ khi nào có lợi cho nước Đức dù phải thiệt hại đến NATO, khu vực Euro và Âu Châu.


***

1. Is Barack Obama right to criticise Nato's free riders? Of course he is – The Guardian 03/11/2016

2. German military requires urgent action: parliamentary report – Reuters 01/09/2019

 

3. German Defense Spending Is Falling Even Shorter. The U.S. Isn’t Happy.03/16/2019

4. Germany Will Meet Its NATO Commitments, Foreign Minister Says - Atlantic Council 04/03/2019

 

4. ECB Signals Possible Rate Cut Prompting Trump Tweets – Wall Street Journal 06/18/2019

 

5. Crashed: How a Decade of Financial Crises Changed the World – by Adam Tooze

  

Tuesday, June 18, 2019

Việt Nam và Hội Nhập Quốc Tế


Việt Nam là nước đông dân với mức độ hội nhập quốc tế nhanh nhất thế giới [1] Trong số 20 quốc gia với dân số trên 50 triệu người thì Việt Nam có tổng số xuất và nhập cảng trên GDP lên đến 200% cao hơn hẳn Thái Lan (122%) và Đức (87%). Những quốc gia còn lại có mức độ hội nhập quốc tế cao hơn Việt Nam thường chỉ là các nước nhỏ ít dân như Hồng Kông và Singapore. Hoa Kỳ là nước mua hàng từ Việt Nam nhiều nhất trong khi Nam Hàn và Trung Quốc dẫn đầu bán sang Việt Nam.

Việt Nam cũng là nước hưỡng lợi nhiều nhất trong cuộc chiến tranh thương mại Mỹ-Trung [2]. Lượng hàng bán sang Mỹ nhảy vọt 26% (13 tỷ USD) trong khi mua từ Trung Quốc tăng 9.7% (15 tỷ USD). Việt Nam hiện đứng hàng thứ 6 trong số các quốc gia Hoa Kỳ chịu thâm thủng mậu dịch cao nhất với cán cân chênh lệch lên đến 39.5 tỷ USD trong năm 2018 [3].

Nhờ vào hội nhập quốc tế nên GDP Việt Nam tăng trưởng 7.1% trong năm 2018 [4]. Tuy nhiên bên cạnh các lợi thế Việt Nam cũng đối diện với nhiều thách thức ngắn và dài hạn:

1. Việt Nam hiện ý thức và cảnh giác trước nguy cơ bị Hoa Kỳ trừng phạt vì hàng từ Trung Quốc luồn lách sang Việt Nam đổi nhãn hiệu rồi bán sang Âu-Mỹ nhằm tránh bị áp thuế [5]. Tuy nhiên câu hỏi vẫn là giám sát hữu hiệu đến mức nào.  

2. Vốn FDI vào Việt Nam tăng nhanh [6]. Nhưng Việt Nam cần chọn lọc các đầu tư nước ngoài không tác hại đến môi trường, đồng thời không chỉ xử dụng nhân công rẻ để lắp ráp mà phải tạo cơ hội để tăng cường công nghiệp hóa bằng cách khuyến khích phát triển các ngành công nghiệp hỗ trợ.

3. Hoa Kỳ cho biết sẽ không đưa Việt Nam vào hàng các quốc gia thao túng hối đoái (currency manipulator) [7] cho dù giá đồng bạc Việt Nam (VND) không tăng so với đô-la (USD) theo đà xuất cảng nhảy vọt sang Mỹ. Tuy nhiên thực hiện như thế nào để giảm chênh lệch mậu dịch hiện lên đến 39.5 tỷ USD trong năm 2018 [3] còn chờ các chi tiết cụ thể trong những năm tháng sắp tới.


4. Việt Nam tăng trưởng nhờ vào hội nhập quốc tế nên khi kinh tế thế giới chậm lại vì chiến tranh thương mại hay do chu kỳ suy thoái cũng sẽ bị ảnh hưởng nặng nề. Nếu không kịp thời kiểm soát được tổng số nợ - công và tư – ngay từ bây giờ thì khi xuất cảng sụt giảm các công ty sẽ không đủ sức trả nợ tư; nhà nước lại thu vào ít thuế nên nợ công sẽ theo đó tăng vọt; tiền VND sẽ giảm giá nhanh so với USD khiến cả nhà nước lẩn các công ty tư nhân càng khó trả nợ nước ngoài. Đây là một vòng xoáy vô cùng nguy hiểm từng xảy ra tương tự tại Thái Lan năm 1998 và Hy Lạp 2010.

Nhờ vào tăng trưởng kinh tế nên Việt Nam hiện đã tích trữ trên 55 tỷ USD [3]. Số lượng ngoại tệ này có thể dùng vào thanh toán nợ xấu trong quá khứ và để hổ trợ VND trong trường hợp kinh tế suy thoái trong tương lai. Nhưng so với kinh nghiệm Thái Lan bị lủng đáy sau khi đã nổ lực đắp đê giữ giá nhưng rồi cuối cùng vẫn phải phá giá đồng Bhat năm 1998, song song với việc Việt Nam hiện khó tăng cường quỹ ngoại tệ lên trên 55 tỷ USD mà không bị Mỹ liệt kê vào hàng thao túng ngoại tệ cho nên biện pháp duy nhất, lâu dài và hữu hiệu là kiểm soát cả nợ công và tư trong giai đoạn tăng trưởng.


Thực tế tại nhiều nước khác cho thấy trái ngược với mong đợi, khi kinh tế tăng trưởng thì tình trạng tiêu xài và đầu tư công lẫn tư lại càng kém hiệu quả do tâm lý hồ hởi quá đáng, nên đi vào chu kỳ suy thoái thì những nước này đều không chống trả nổi với làn sóng tháo lui của đầu tư nước ngoài. Đây chính là một trong những mối đe dọa hàng đầu cho mọi quốc gia đang mở mang.
  
***

[1] Vietnam is the most globalized populous country in modern history – The True Globalist 10/03/2018

[2] Vietnam Tops List of Biggest Winners From U.S.-China Trade War – Bloomberg  06/03/2019

[3] Here’s Why Vietnam Risks Being Labeled a Currency Manipulator – Bloomberg 05/10/2019

[4] Vietnam Economy Remains Outperformer as Growth Tops 7% Mark – 12/27/2018

[5] Thương chiến Mỹ-Trung : Hà Nội sẽ chống hàng Trung Quốc dán nhãn Việt Nam – RFI 06/10/2019

[6] Riding out the trade war in Vietnam on a new wave of FDI – East Asia Forum 01/01/2019

 

[7] U.S. Will Refrain From Labeling Vietnam a Currency Manipulator – Bloomberg 05/24/2019


Friday, June 14, 2019

Cộng Hòa Xã Hội Chủ Nghĩa…Hoa Kỳ


Trong số các ứng cử viên Tổng Thống thuộc đảng Dân Chủ hiện có bà Elizabeth Warren đứng hạng thứ ba. Điểm nổi bật trong chương trình ứng cử của bà Warren là “I’ve got a plan” [1] vì bà có sẳn câu giải đáp cho đủ mọi vấn đề hóc búa từ đánh thuế nhà giàu, kiểm soát các tập đoàn đa quốc gia, trừng trị các chủ công ty phạm pháp, bảo đảm mọi người dân có nhà ở, giảm học phí đại học, cắt nợ cho sinh viên, giải quyết nạn ghiền thuốc phiện (opioid), giảm thiểu rủi ro khi sanh đẻ, gởi trẻ giá rẻ, v.v… Bà còn đề ra một chương trình trị giá 2000 tỷ USD để giải quyết biến đổi khí hậu [2].

Như vậy là nước Mỹ nếu bầu bà Warren làm Tổng Thống thì “đồng bào đừng có no (lo) cứ để cho nhà nước no (lo).”

Ứng cử viên hạng nhì trong đảng Dân Chủ là ông Bernie Sanders vốn tự xem thuộc thành phần Dân Chủ Xã Hội (Social Democrat) [3]. Các điểm nổi bật nhất trong chương trình tranh cử của ông gồm bảo hiểm sức khỏe cho mọi người dân (Medicare-for-all) và  miễn học phí ở bậc Đại Học [1]. Ông chưa cho biết tiền sẽ lấy đâu ra hưng nếu tăng thuế vẫn không đủ thì ông Sanders theo chủ thuyết Tiền Tệ Tân Thời (Modern Monetary Theory) [4] tức là nhà nước Mỹ cứ tự tiện…in tiền để xài, lý do vì Hoa Kỳ vay nợ bằng đô-la nên có thể in thêm đô-la để trả nên không bao giờ quịt nợ ai.


Bà Warren và ông Sanders thuộc cánh tả nên chống lề lối mậu dịch lái buôn của Trung Quốc nhằm bảo vệ cho công ăn việc làm của giới thợ thuyền của dân Mỹ. Chỉ có ông cựu Phó Tổng Thống Joe Biden - hiện dẫn đầu trong số các ứng cử viên thuộc đảng Dân Chủ - lại tuyên bố một câu bất ngờ ngay trong những ngày đầu ra tranh cử rằng Trung Quốc không phải là đối thủ thương mại của Mỹ! [5] Tuy vậy ông Biden không ngây ngô nhưng thể hiện quan điểm của giới tinh hoa toàn cầu hóa (global elites) trong nước Mỹ rằng thương mại toàn cầu và buôn bán với Trung Quốc là có lợi…cho họ (cho dù hàng triệu công nhân Hoa Kỳ bị thất nghiệp).

Như vậy để đối phó với trào lưu dân túy (populist) cánh hữu của Tổng Thống Trump nên đảng Dân Chủ bị đẩy sang chủ nghĩa xã hội (socialist) phe tả của ông Sanders và bà Warren. Chỉ còn ông Biden thuộc cánh trung tả (center left) theo khuynh hướng toàn cầu hóa: hợp tác quốc tế, giao thương quốc tế, sen đầm quốc tế tức là lo cho quốc tế nhiều hơn nước Mỹ.

Cho nên giữa nước Mỹ trên hết (America First) của Trump, nước Mỹ xã hội chủ nghĩa (socialist America) của ông Sanders và bà Warren và nước Mỹ quốc tế hóa (globalist America) của Joe Biden thì lá phiếu của mỗi người dân sẽ chọn ai?