Sunday, May 5, 2013

Vai trò của nhà nước trong kinh tế thị trường


Nhà nước và doanh nghiệp tuy cùng sinh hoạt trong thị trường tự do nhưng  chức năng rất khác nhau: mục tiêu của doanh nghiệp là để sinh lợi nhuận, trong lúc vai trò của nhà nước nhằm bảo đảm mức an sinh cơ bản cho dân chúng đồng thời lo đầu tư vào tương lai như giáo dục, cầu đường v.v.... Một thí dụ dễ hiểu khi công xưởng có quyền sa thải công nhân viên làm việc kém cõi để tăng hiệu năng; ngược lại đối với người già hay khuyết tật dù là thành phần phi sản xuất nhưng không vì thế mà nhà nước có quyền lơ là không chăm sóc.
Tuy vậy cách nhìn này có thể dẫn đến thắc mắc rằng liệu việc bảo đảm mức an sinh của dân chúng có đồng nghĩa với nhà nước được quyền tái phân phối lợi tức trong quốc gia hay không? Nói cách khác là nền kinh tế chỉ huy có đáp ứng nhu cầu xã hội nói trên hơn so với thị trường tự do hay không?
Câu trả lời thoạt tiên có vẽ nghịch lý nhưng đã được chứng nghiệm qua lịch sử 100 năm: thị trường tự do hoạt động hữu hiệu hơn nền kinh tế chỉ huy rất nhiều trong việc tạo ra phúc lợi cho xã hội. Vai trò thích hợp của nhà nước là giám sát bảo đảm thị trường được vận hành tự do theo quy luật cung cầu, và càng ít sự can thiệp của chính quyền càng tốt. Khi kinh tế tăng trưởng thì đời sống của dân chúng mới được cải thiện theo đó.
Xin lấy một thí dụ dễ hiểu vào một năm thiếu lúa mì khiến giá tăng vọt so với gạo. Trong kinh tế chỉ huy nhà nước có thể huy động mọi địa phương phải trồng lúa mì dẫn đến thặng dự khiến giá cả bị rớt trong lúc gạo lại thành khan hiếm.
Trái lại trong thị trường tự do một vài nông dân nhanh trí và lẹ tay đổi qua trồng lúa mì sớm nên họ thu lời cao hơn đa số còn lại. Nhiều người khác bắt chước chạy theo, cho đến lúc mức cung lên cao hơn cầu thì những ai chậm trễ sẽ bị lổ trong lúc người đi trước hưởng lợi. Nhưng nhìn chung thì thị trường vận hành rất hữu hiệu để tiến đến mức độ cân bằng trong sản xuất giữa lúa mì và gạo, nhờ đó đa số người tiêu dùng đều có lợi.
Vai trò của nhà nước trong trường hợp nói trên không phải để đặt ra chỉ tiêu sản xuất gạo và lúa mì, trái lại con số này sẽ do thị trường định đoạt. Chính quyền có nhiệm vụ trọng tài không cho cạnh tranh bất chính như bơm giá ảo hay ép giá v.v…
Trên cách nhìn khác thị trường tự do thưởng người nhanh và phạt kẻ chậm. Dù vậy chính quyền vẫn không có trách nhiệm tái phân phối lợi tức cho đồng đều bằng cách nâng đỡ các anh thua lổ bởi ba nguyên do: (1) tạo sự ỷ lại (2) bất công đối với người giỏi vốn là thành phần năng động tạo ra của cải trong xã hội (3) thoái thường tình khi nhà nước được trao quá nhiều quyền hạn ắt sanh ra lạm dụng. Hiệu năng của thị trường tự do đến từ việc đào thải các doanh nghiệp kém sức cạnh tranh mà lại ban thưởng cho những xí nghiệp giỏi – nhà nước không thể can thiệp vào tiến trình này nếu muốn nền kinh tế tăng trưởng để đem lại phúc lợi cho xã hội nói chung.
Chúng ta hãy phân tích sâu thêm vào thí dụ nói trên: nông dân giỏi ngày thêm giàu, còn anh thất bại cùng quẩn khiến con cái không đủ tiền ăn học. Hố giàu nghèo ngày càng sâu dẫn đến bất mãn trong xã hội.
Nhà nước không thể san bằng giàu nghèo nhưng ngược lại được quyền đánh thuế để trang trải cho mạng lưới an sinh bao gồm giáo dục cho trẻ em, quy định mức lương tối thiểu và môi trường lao động của thợ thuyền, trợ cấp thất nghiệp và người già. Thuế khoá không nhằm tái phân phối lợi tức xã hội nhưng  để chi phí vào các mục tiêu an ninh, ổn định và đầu tư cho tương lai.
Khái niệm về lưới an sinh xã hội rất quan trọng trong xã hội Âu-Mỹ vì nhờ đó mà xã hội thăng tiến từ môi trường mạnh được yếu thua của thị trường tự do (hay còn gọi là chủ nghĩa tư bản hoang dã) sang mô hình tư bản, dân chủ và tự do.
Trở lại với một xã hội chậm tiến thì mức cung và cầu có thể thay đổi rất chậm: trong thí dụ nói trên một khi lượng sản xuất lúa mì và gạo đã đều hoà thì ít có lý do thay đổi trừ trường hợp mùa màng hạn hán hay dịch bệnh. Nhưng đối một quốc gia năng động tình trạng thăng bằng lại không kéo dài được lâu do các phát minh sáng kiến mới,  chẳng hạn chiếc máy cày được chế ra để năng suất trồng gạo lẩn lúa mì khiến cung nhiều hơn cầu.
Con số nông dân sẽ giảm đi bởi có người nhảy ra bán máy cày thay vì làm ruộng. Nhờ vậy nền kinh tế thêm đa dạng, tổng sản lượng quốc gia tăng, và một lớp nhà giàu mới được hình thành. Vai trò của nhà nước khi đó (a) không tài trợ các doanh nghiệp đã đánh mất tính cạnh tranh; (b) bảo đảm các thế lực củ không bóp nghẹt tính sáng tạo, chẳng hạn ngăn cản một vài ông điền chủ bất lương không cho bán máy cày để khỏi bị cạnh tranh.  Xã hội và thị trường khi đó mới giữ được tính năng động để “không ai giàu ba họ, chẳng ai khó ba đời”.

Sunday, April 28, 2013

Tổng thống Putin nghĩ gì?


Không ít các nhà nghiên cứu Tây Phương kể từ thế kỷ 17 đã tiên liệu sẽ có ngày nước Nga hoà nhập vào đại gia đình Âu Châu để đối phó với hiểm hoạ da vàng - tức là lúc mà Trung Quốc trổi dậy và  đe doạ nước Nga nói riêng và Âu Châu nói chung. Nhưng hiện tổng thống Putin đang đi một hướng trái ngược lại khi ông hợp tác với Bắc Kinh nhằm kềm chế ảnh hưởng của Tây Phương, cho dù hơn ai hết ông hiểu rất rõ thế địa chính trị trong khu vực và đâu là lợi ích lâu dài của nước Nga. Chính sách của Putin dường như chỉ nhằm thoả mãn tự ái dân tộc ngắn hạn và tâm lý nghi ngờ Âu-Mỹ của chính cá nhân ông, điều này đã được nhiều nhà phân tích tìm hiểu vì bắt nguồn từ những nguyên nhân văn hoá và lịch sử xâu xa.

 Có người cho rằng tổng thống Putin muốn dành lại vị thế siêu cường giống như thời Liên Xô cũ. Nhưng tham vọng là một chuyện, một người nhiều kiến thức như ông Putin không thể không biết rằng nước Nga gánh chịu những giới hạn về kinh tế và dân số nên chỉ có thể là một cường quốc hạng nhì hay ba trong thế kỷ 21. Hợp tác với Tây Phương vẫn tốt cho lợi ích lâu dài hơn là bắt tay với Trung Quốc. bởi vì Âu-Mỹ không có tham vọng lãnh thổ, trong khi Hoa Lục ấp ủ giấc mơ chiếm lại tài nguyên giàu có trên hàng triệu cây số vuông vùng biên giới mà họ cho là bị Sa Hoàng cướp đoạt trước đây.

Putin có thể chọn thế đu dây, khai thác tình trạng tranh chấp giữa Mỹ-Trung để xác định vai trò của một cường quốc không thể bị lãng quên. Về quân sự Mạc Tư Khoa bán vũ khí vừa cho Hoa-Ấn rồi cả những nước trong ASEAN vốn đang tranh chấp. Về chính trị bênh vực cho chế độ độc tài bị thế giới lên án ở Iran và Syria. Trên bình diện kinh tế xây ống dẫn bán dầu khí cho Trung-Hàn-Nhật để vừa có lời và cũng cho thấy vai trò quan trọng trong nền kinh tế khu vực. Cung cách hành xử của Nga trong nhiều trường hợp lại mang tính cách trục lợi thay vì tạo cho mình một thế đứng cân bằng giữa các xung đột, nên ông Putin dù là một chiến lược gia kinh nghiệm lại bỏ mất thời cơ quan trọng để xây dựng nền tảng vững chắc cho những quyền lợi lâu dài trong tương lai. Nga chỉ hành xử theo cơ hội chủ nghĩa mà không tạo sức thuyết phục và chỗ đứng lâu dài của một cường quốc.

Trong số ba nước đối thủ dưới thời chiến tranh lạnh, Hoa Kỳ và Trung Quốc có tầm nhìn rất xa trong lúc Nga lạc lỏng không xác định được vị trí của mình vào thế kỷ 21 – cho dù chính khuyết điểm này đôi khi lại trở thành ưu thế khi Mạc Tư Khoa theo đuổi chính sách trục lợi làm nghiêng ngã bàn cờ quốc tế. Mỹ dẫn đầu về tính năng động và sáng tạo trong một xã hội mở rộng của mô hình dân chủ tự do, trong trào lưu toàn cầu hoá và nền trật thế giới vốn được hình thành từ sau Thế Chiến Thứ Hai. Hoa Lục ôm ấp giấc đại mộng Phục Hưng Trung Hoa dưới sự lãnh đạo của đảng Cộng Sản, và đòi hỏi quan hệ quốc tế phải được thay đổi cho phù hợp với vai trò ngày càng lớn mạnh của mình. Nga ở vào tư thế có thể chọn lựa được vị trí thăng bằng giữa hai siêu cường trong thế kỷ 21 , thì trong nước lại không có những cuộc tranh luận về hướng tiến lịch sử của đất nước khi giới lãnh đạo chỉ lo nịnh bợ thi hành các quyết định của tổng thống Putin trong lúc thành phần trí thức bị chia rẻ và vất vã tranh đấu cho quyền tự do bài tỏ ý kiến.

Những bài viết của Putin cho thấy ông không phải là một nhà độc tài ngu muội mà rất thấu hiểu về những nhu cầu của nước Nga: tăng cao dân số; phát triễn công nghệ hiện đại bên cạnh lãnh vực quốc phòng; ổn định xã hội để tăng trưởng kinh tế, nhưng đồng thời mở cánh cửa dân chủ và pháp trị vì đây là con đường duy nhất giải quyết tình trạng tham nhũng hối mại nhằm phát huy năng lực sáng tạo và cạnh tranh của xã hội. Nhưng khi hành xử ông dường như chỉ chủ trọng vào ổn định - nhất là cho vai trò Tổng Thống mà ông đang nắm giữ đến nhiệm kỳ thứ ba – mà xao lảng các mục tiêu còn lại dù đây chính là nền tảng lâu dài cho đất nước.

Các biện pháp của ông chỉ nhằm vào thoả mãn tinh thần quốc gia hời hợt của quần chúng, đồng thời tô bóng hình ảnh cá nhân và cũng cố vây cánh thế lực trong các hệ thống kinh tế, an ninh và nhà nước. Putin thực hiện được những điều này không phải với bản lãnh tầm cỡ như các nhà lãnh đạo Lý Quang Diệu hoặc Đặng Tiểu Bình, trái lại một mặt ông áp dụng bàn tay sắt đối với thành phần đối lập, đồng thời lợi dụng vào hoa lợi thu nhập từ nguồn tài nguyên dồi dào phong phú để thúc đẩy nền kinh tế và xoa dịu quần chúng.

Về ngoại giao, việc Putin nâng tầm quan trọng của khối BRIC (gồm Ba Tây - Nga - Ấn Độ - Trung Quốc, cộng thêm Nam Phi) rất hợp lý khi mà tỷ trọng kinh tế của các nước này tăng vọt trong lúc Âu-Mỹ-Nhật không hẳn là đầu máy tăng trưởng và cũng chưa chắc sẽ còn giữ thứ hạng hiện thời trong vài thập niên tới đây. Nhưng bù lại, Putin không hề cố gắng tạo dựng một khuông mẫu để khối BRIC tín nhiệm và hợp tác, vì các nước đều biết ông muốn lợi dụng họ để làm suy yếu Tây Phương và nâng tầm quan trọng của riêng nước Nga; giống vậy, Bắc Kinh muốn dùng làm bàn đạp tạo ảnh hưởng khắp thế giới nhằm phục vụ cho giấc mơ Phục Hưng Trung Hoa; trong khi Ba Tây - Ấn Độ và Nam Phi không có tham vọng toàn cầu nên cảm thấy an toàn hơn khi nền trật tự thế giới hiện thời được duy trì, cho dù họ muốn có tiếng nói mạnh hơn trong các vấn đề kinh tế.

***

Sau khi Liên Bang Xô Viết tan rã, nước Nga cảm thấy bị tổn thương cả về uy tín lẫn quyền lợi mỗi dịp hợp tác với Tây Phương. Lần thứ nhất khi bỏ phiếu đồng thuận ở Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc lên án Iraq xâm lăng Kuwait năm 1990, rồi sau đó dẫn đến hai cuộc chiến vùng vịnh năm làm sụp đổ một chế độ vốn là thế lực và thân chủ lâu đời từ sau Thế Chiến Thứ Hai. Lần thứ hai khi đồng minh truyền thống của Nga là sắc dân Serbia phải thua cuộc trong cuộc chiến tại Kosovo thuộc Nam Tư cũ năm 1998-99. Cạnh đó nhiều người Nga nghĩ rằng Âu-Mỹ đã âm mưu phá hoại nền kinh tế để nước Nga vĩnh viễn không còn là một đối thủ của Tây Phương. Khi NATO thu nhận các nước Đông Âu cùng nhiều quốc gia trước đây nằm trong Liên Bang Xô Viết làm thành viên, Mạc Tư Khoa xem đây là bước xâm phạm vào vùng trái độn và đe doạ nền an ninh của Nga, dẫn đến ba lần tranh chấp (1) chiến tranh với Georgia năm 2008 (2) cắt không bán khí đốt cho Ukraine năm 2009 (3) phản đối hệ thống tên lửa phòng thủ của Hoa Kỳ không được đặt tại Ba Lan năm 2009.

Hố sâu giữa Nga và Âu Châu bắt đầu từ khởi nguồn xa xôi trong lịch sử khi một bên theo Chính Thống Giáo còn phía kia là Cơ Đốc Giáo. Nước Nga bị Tây Phương xem như lạc hậu và thô kệch cho dù nơi đây đã sinh sản các đại văn hào như Tolstoi và Doestoyevsky, những toán học gia lừng lẫy như Markov và Euler, và hoàn thiện điệu vũ ballet vốn được thế giới ngưỡng mộ. Nga là một quốc gia nông nghiệp truyền thống từ thời Sa Hoàng (đất đai thuộc về quý tộc) sang Xô-Viết (đất đai thuộc tập thể) nên quan niệm về sỡ hửu tư nhận và quyền tự do cá nhân chỉ mới manh nha bộc phát sau này. Những nhà lãnh đạo mà dân Nga cảm thấy gần gũi như Yeltsin (tài giỏi, nhưng thô lổ và thích say rượu) và Putin (nghị lực và quyết đoán) thay vì Gorbachev vốn quá nhiều dáng dấp của giới trí thức Tây Phương.

Như trên đã đề cập đến, tổng thống Putin nhiều lần viết bài cho thấy ông hiểu rất rỏ nhu cầu ổn định của dân Nga - hay nói đúng hơn đây là tâm lý thụ động chờ đợi nhà nước lo liệu về an ninh và đời sống. Nhưng chính ông đã nhận xét rằng cánh cửa dân chủ và pháp luật phải được mở để bài trừ tham nhũng và tạo cơ hội cho sức cạnh tranh sáng tạo bùng phát thì mới xây dựng được tương lai lâu dài. Dù vậy phản ứng của Putin đối với những chỉ trích vi phạm nhân quyền hình như bị thúc đẩy bởi tâm lý cá nhân không thể chấp nhận bị Tây Phương và thành phần trí thức trịch thượng, thay vì ông chọn con đường lợi ích cho quốc gia. Hoạ chăng điểm khác biệt của Putin tuy dung túng bè đảng nhưng ông xem thường họ như những con cờ để xử dụng, chớ ông không chiụ đơn thuần làm lãnh tụ của đám cướp theo kiểu như nhiều chính trị gia độc tài nước khác.

Putin cũng không phân biệt được giữa khát vọng dân chủ - độc lập - an ninh của các quốc gia Đông Âu và thuộc Liên Bang Xô Viết trước đây mà xem việc NATO mở rộng như mối đe doạ cho Nga. Các nước này trước đây đã nhiều lần bị bán đứng, xâm lăng rồi chà đạp bởi cả Tây Âu, Đức Quốc Xã rồi Xô Viết; đến nay là cơ hội đầu tiên họ có hy vọng vào tương lai. Khó mà hình dung NATO dù bành trướng lại có ngày tấn công nước Nga; trái lại khi Đông và Tây Âu cùng thịnh vượng và dân chủ chính là cơ hội để nước Nga cung cấp nhiên liệu đồng thời tiếp nhận đầu tư, kỷ thuật, cùng tính kỷ luật và tổ chức để phát triển lâu dài. Đây lại còn là thế lực giúp Nga cân bằng lực lượng với tham vọng của Trung Quốc từ phương Nam.  Tóm lại, cả Nga cùng Âu Châu cùng hợp tác có lợi (win-win) thay vì đối nghịch để kẻ thắng người thua (zero sum game).

Trái lại, con gấu Nga đã chọn bắt tay – không phải với con rồng mà là con rắn độc Trung Quốc vì thể nào cũng có ngày nó quay lại cắn người bạn đồng hành. Tuy đây có thể là bước tính giai đoạn nhưng những quyết định bán kỷ thuật quân sự cho Hoa Lục (cho dù biết trước rằng sẽ bị sao chép) cũng như khai thác để làm mất thế cân bằng giữa Tây Phương và Hoa Lục sẽ còn để lại hậu hoạn lâu dài về sau.

Lịch sử sẽ đánh giá Putin như một nhà lãnh đạo có nhiều tư duy nhưng lại bỏ lở cơ hội đưa nước Nga vào con đường phát triển bền vững và vai trò cường quốc trách nhiệm trên quốc tế. Nước Nga trong thời hậu Putin sẽ bắt đầu đi lại từ đầu để tìm ra vị trí của mình trong thế kỷ 21.

Sunday, April 21, 2013

Trung Quốc thay đổi lập trường xử dụng vũ khí nguyên tử?


Nhiều khi những điều một quốc gia không nói ra cũng quan trọng không kém các tuyên bố công khai. Bạch Thư Quốc Phòng do Trung Quốc công bố hôm thứ ba tuần rồi đã bỏ trống lời cam kết từ suốt nửa thế kỷ rằng Hoa Lục sẽ không là nước đầu tiên xử dụng vũ khí nguyên tử.

Một vấn đề quan trọng như vậy không thể để mập mờ, nên các chuyên viên Mỹ đã yêu cầu Bắc Kinh làm sáng tỏ lập trường của họ. Dù thế nào thì sự kiện này đã tạo những đợt sóng ngầm vùng Đông Á.

Đối diện với vụ khủng hoảng do Bắc Triều Tiên gây ra chủ trương của Mỹ-Trung-Nhật-Hàn cho đến nay vẫn là phi hạch nhân hoá vùng Đông Bắc Á. Điều này có thể hàm ý là Nhật sẽ không tự trang bị vũ khí nguyên tử mà chỉ dựa vào cánh dù an ninh của Hoa Kỳ.

Nếu Trung Quốc nay từ bỏ lập trường không là nước đầu tiên khơi mào chiến tranh hạch nhân thì Tokyo sẽ tự hỏi liệu có ngày sẽ bị Hoa Lục dùng vũ khí nguyên tử uy hiếp hay không? Nếu sự việc này xảy ra liệu Mỹ có đủ quyết tâm để bảo vệ người bạn đồng minh hay sẽ bỏ rơi Nhật để tránh một cuộc chạm trán hạch nhân toàn diện với Trung Quốc?

Cách tính toán này đã có tiền lệ vào giai đoạn cuối của Chiến Tranh Lạnh khi các nước Tây Âu đòi hỏi Hoa Kỳ phải triển khai hoả tiển nguyên tử tầm trung ngay trên nước họ. Mục đích chính nhằm đặt Mỹ vào thế không đứng ngoài trong trường hợp Hồng Quân Xô-Viết tấn công.

Thái độ mập mờ của Trung Quốc sẽ làm tình hình vùng Đông Á thêm căng thẳng và dẫn đến một cuộc chạy đua vũ khí trong khu vực.

Sunday, April 14, 2013

Vai trò của nhà nước trong khủng hoảng kinh tế


Cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu từ năm 2007 kéo dài đến nay cho thấy nhà nước nắm vai trò chủ động giúp nền kinh tế phục hồi sớm hay chậm. Tuy nhiên áp dụng các biện pháp nào, cho những mục tiêu gì, và mức độ can thiệp sâu hay cạn vẫn là những đề tài tranh luận sôi nổi của giới hoạch định chính sách và chuyên viên kinh tế.

Trọng tâm vẫn là làm thế nào để vai trò của nhà nước không cản trở sinh hoạt lành mạnh của nền kinh tế trong đó luật đào thải các doanh nghiệp yếu kém là một trong các nền tảng căn bản nhất của thị trường tự do.

Gần đây có hai cụm từ rất chính xác và dễ hiểu được áp dụng vào kinh tế là “ỷ thế làm liều” (chuyên gia kinh tế Nguyễn Xuân Nghĩa) và “con dại cái mang” (tác giả Nguyễn Văn Thạnh), mỗi cách nói nhắm vào một góc cạnh trong việc tìm hiểu đâu là vai trò và giới hạn của nhà nước trong thị trường tự do.

Trước hết chúng ta cần minh định rỏ sư khác biệt giữa nhà nước và doanh nghiệp tư nhân: mục tiêu của doanh nghiệp là gây lợi nhuận, trong lúc chức năng chính của nhà nước nhằm bảo đảm an sinh của mọi tầng lớp dân chúng.

Một thí dụ dễ hiểu là doanh nghiệp có quyền sa thải các nhân viên kém cỏi để tăng tính cạnh tranh. Còn trong một quốc gia có người già, người khuyết tật là những thành phần phi sản xuất nhưng không vì vậy mà chính quyền có thể lơ là không chăm sóc.

Khi nền kinh tế sinh hoạt bình thường thì nhà nước làm trọng tài thực thi các quy định bảo vệ người lao động, môi trường và tính cạnh tranh (không gian lận, hợp đồng phải tôn trọng, v.v…). Trong hầu hết quốc gia chính quyền còn đóng thêm vai trò tích cực khi đặt ra mục tiêu chiến lược để phát triển nền kinh tế, bằng những cách như kiểm soát giá hối đoái, khuyến khích đầu tư nước ngoài, nâng đỡ phát triển các công nghiệp mũi nhọn v.v…Chức năng của nhà nước trong hoàn cảnh này được đồng ý rộng rãi mà không có nhiều tranh luận (cho dù vẫn có ngoại lệ như trường hợp không ít các chuyên gia phân tách về vai trò của nhà nước tại Hoa Lục)  

Nhưng khi nền kinh tế rơi vào khủng hoảng trầm trọng như trong những năm 2007-12 khiến nhà nước trực tiếp nhảy vào can thiệp – khi đó không còn là trọng tài hay người điều khiển cuộc chơi nhưng đã trở thành một tác nhân chủ động trong nền kinh tế, thì các tranh cải lại rất sôi nổi về mục tiêu, biện pháp và giới hạn của nhà nước.

Trước hết là ngành ngân hàng, nếu cho vay cẩu thả để thua lổ thì nhà nước có nên cứu giúp hay không, do bởi được nâng đỡ lần này lại sẽ “ỷ thế làm liều” tái phạm trong tương lai?

Bài học thực tế khi chính phủ Mỹ để mặt cho Lehman Brothers phá sản vào tháng 9/2008 nhằm cảnh cáo giới ngân hàng đầu tư, nhưng sau đó lại khiến thị trường tài chánh sụp đổ dây chuyền là ít có nhà nước nào còn dám không can thiệp. Tiền tệ là huyết quản của thị trường, khi hệ thống ngân hàng bị bế tắc cũng giống như nghẽn mạch máu thì cần ngay luồn điện bên ngoài giúp bắp thịt tim co giãn mạnh nếu không sẽ chết ngay tức khắc.  

Bộ Tài Chánh sau đó tung hàng ngàn tỷ USD để mua lại nợ xấu và trái phiếu của các ngân hàng cùng hai cơ quan đầu tư địa ốc Fannie Mae và Freddie Mac (các cơ quan này trước đây mua lại nợ địa ốc của ngân hàng). Nhưng sau đó thị trường tín dụng vẫn bị siết chặt bởi các ngân hàng giống như chim sợ ná không dám cho vay khi sổ sách vẫn chưa rõ rệt là nợ xấu bao nhiêu. Điều này khiến các doanh nghiệp nhỏ không vay được tiền nên không thể phát triễn làm ăn, dẫn đến thất nghiệp cao, tiêu thụ giảm. Cho nên Quỹ Dự Trữ Trung Ương mỗi tháng phải bơm vào kinh tế hàng chục tỷ USD, nhờ đó mà thị trường dần dần khôi phục.

Câu hỏi đặt ra là tiền đổ ra ào ạt như vậy nhưng sau nước Mỹ vẫn vay mượn được với giá cực rẽ (tiền lời khoảng 1%) và không bị lạm phát? Lý do nhờ Hoa Kỳ có hai lợi thế độc đáo: (1) họ vay bằng đô-la, thì họ có thể in đô-la trả nợ (2) tình hình thêm bắp bênh thì các nước càng gởi tiền cho Mỹ vì đây vẫn là nơi an toàn nhất. Nhưng do Hoa Kỳ đang lạm dụng hai ưu thế này nên cũng sẽ có ngày trả giá rất đắt.

Trở lại việc “ỷ thế làm liều”, để tránh việc cho vay cẩu thả trong tương lai nên Quốc Hội chuẩn bị nhiều dự luật giám sát khắc khe nhằm giới hạn môi trường đầu tư của ngân hàng để giảm bớt rủi rọ. Cuộc tranh luận trở nên vô cùng phức tạp và chuyên môn vì đụng chạm đến quyền lợi của các đại gia tư bản; đồng thời kiểm soát quá chặc chẻ sẽ triệt tiêu năng lực sáng tạo của thị trường tài chánh khi đi đầu tư gieo mầm trong các sinh hoạt kinh tế nhiều triển vọng nhưng cũng lắm bất trắc.

Một nhận xét ngắn về lịch sử: nền kinh tế giống như quả lúc lắc giữa hai chu kỳ mỗi 30-40 năm: sau một cuộc khủng hoảng thị trường bị giám sát chặc chẻ, ổn định rồi thành trì trệ; để thúc đẩy phát triễn nhà nước phải nới lỏng quy định, kinh tế tăng trưởng dần dần dần đến khủng hoảng. Trạng thái cân bằng không thể có ngày nào mà còn các sáng tạo về khoa học, kỷ thuật hay trong môi trường buôn bán (chẳng hạn như toàn cầu hoá) là những tác động kích thích con lắc phải lung chạy.

Sang đến thị trường địa ốc, trong nhiều năm chính quyền Hoa Kỳ cũng có các biện pháp giúp đỡ mua nhà nhưng không mấy hiệu quả. Nhưng giá nhà hiện tăng vọt kể từ năm 2012, có lẽ vì nền kinh tế dần ổn định nên đây là cơ hội để mua khi tiền lời còn cực thấp.

Nhưng nước Mỹ đã bỏ rất nhiều tiền cứu vớt đại công ty bảo hiểm AIG, cùng những hảng xe hơi Ford và GM, vốn bị liên lụi trực tiếp hay gián tiếp bởi ngành ngân hàng. Lý do là các doanh nghiệp này sụp đổ sẽ ảnh hưởng đến hàng triệu hoặc hàng chục triệu dân chúng trong hoàn cảnh nền kinh tế đang suy sụp càng khiến tình hình thêm phần nghiêm trọng. Điều may mắn là những công ty này đều phục hồi vào trả lại gần hết số nợ của nhà nước. Đây là thí dụ điển hình về “con dại cái mạng”

***

Những biện pháp nói trên áp dụng ở Mỹ và các nền kinh tế thị trường. Những vấn đề tại một nền kinh tế phi thị trường lại khác rất nhiều, cho dù bề ngoài có nhiều biện pháp giống nhau nhưng mục tiêu nhằm cứu vãn thị trường hay để duy trì lợi ích và quyền lực bè phái.

Hai yếu tố chính để kiểm soát sự can thiệp của nhà nước, là tự do báo chí và tự do bầu cử. Phải có báo chí và những chuyên gia phân tích từ cả cánh tả lẫn cánh hữu mới thấy điều hơn lẽ thiệt của mỗi chính sách. Nhưng cho dù khuyên can thế nào mà một chính quyền không sợ bị thay đổi thì họ vẫn có thể bỏ mặt ngoài tai. 

Saturday, April 6, 2013

Điều gì làm Trung Quốc sợ?


Muốn ngăn chận sự bành trướng của Trung Quốc cần phải tìm hiểu điều gi khiến Bắc Kinh quan ngại, và chúng ta có thể rút ra bài học từ mối quan hệ giữa Hoa Kỳ cùng Pakistan, IraqAfghanistan.

Cả nhà cầm quyền và dân chúng của ba nước này đều công khai chống đối và cản trở nhiều chính sách của Hoa Thịnh Đốn, thế mà Mỹ hàng năm cứ phải đổ vào hàng tỷ đô-la viện trợ cả kinh tế lẫn quân sự. Lý do vì Hoa Kỳ sợ các quốc gia nói trên rơi vào cánh Hồi Giáo cực đoan (hay tệ hại hơn nửa là Al Queida) thì hiểm nguy cho Mỹ sẽ còn to lớn hơn rất nhiều so với những tốn kém hiện thời.

Trở lại với tình hình Đông Á, một trong các trọng tâm của Bắc Kinh là không thể để cho Bắc Hàn, Việt Nam, Lào và Cam Bốt tách rời khỏi quỹ đạo của Hoa Lục đi vào dân chủ. Trên địa lý chiến lược vì Trung Quốc cần những nước này làm khu vực trái độn, về chính trị và xã hội do Bắc Kinh quan ngại một thay đổi lớn như vậy ở ngay sát biên giới sẽ có ảnh hưởng sâu đậm đến nội tình Trung Quốc. Cho nên Bắc Kinh sẽ dùng mọi thủ đoạn từ hổ trợ cho đến kềm chế để các chế độ nói trên không thể bị sụp đổ nhằm phục vụ cho quyêề lợi Trung Quốc.

Nhưng ngược lại, nhà cầm quyền của các nước lân bang cũng phải thấy rỏ yếu điểm nói trên của Bắc Kinh, để nếu có bị lệ thuộc nhưng không bắt buộc phải hèn nhát nhất là khi lợi ích quốc gia bị xâm phạm. Pakistan, Iraq, Afghanistan vừa nhận viện trợ nhưng vẫn ngang ngược với Mỹ, rồi đến Bắc Hàn cũng cứng đầu với Trung Quốc, thì không có lý do gì nhà cầm quyền Việt Nam phải khiếp sợ đối với đàn anh.

Lý lẽ để Hà Nội đưa ra cho Bắc Kinh rất đơn giản: quý vị ỷ thế nước lớn chèn ép quá mức, đến một lúc nào dân chúng tôi công phẩn nổi dậy thì vị trí lãnh đạo của chúng tôi cũng phải lâm nguy! Khi đó hoặc Hoa Lục phải chấp nhận một nước Việt Nam dân chủ sát cạnh biên giới, còn nếu tính đem quân đội vào để cứu vãn một nhà nước thân Trung Quốc thì cứ xem trước gương của Liên Xô tiến vào A-Phú-Hãn chớ đừng vội vã.

Bên cạnh lời nói phải có các chính sách để cũng cố nội lực và xoa diụ dân chúng: ngăn chận hàng Trung Quốc tràn ngập phá hoại nền kinh tế, công nghiệp và sức khoẻ của dân chúng; kiểm tra chặc chẻ việc người Hoa lan tràn lẫn lộn trong nước; và phải để dân chúng thể hiện công khai và hợp pháp quan điểm chống các bước bành trướng của Trung Quốc.

Nói cho cùng, kế hoạch này là Hạ Sách vì không thể xây dựng mối quan hệ lâu dài và bền vững dựa trên hù doạ rồi bắt bí lẫn nhau. Thượng Sách là mở cánh cửa chuyển hoá dần sang Dân Chủ và chọn những đồng minh không những dựa trên quyền lợi chiến lược mà cần chia xẻ các giá trị nhân bản thì mới lâu dài như trường hợp giữa Mỹ - Nhật – Tây Âu – Úc, và giờ đây thêm vào Nam Hàn. Miến Điện sát cạnh Trung Quốc nhưng đã mở được cánh cửa dân chủ thì Việt Nam cũng có thể làm được.

Nhưng trong tình cảnh bế tắc hiện thời, muốn giữ quyền lãnh đạo nhưng vẫn còn tự trọng không khíếp nhược ngoại bang thì thà áp dụng Hạ Sách còn hơn ngậm im miệng trước những chèn ép của đối phương! 

Friday, March 29, 2013

Kinh tế Mỹ: như người cai nghiện đang phục hồi


Ngành kinh tế tuy rất chuyên môn và phức tạp nhưng lại gần giống như cơ thể con người. Vì vậy nhiều khi so sánh các biện pháp kinh tế với công việc trị liệu người bệnh thì lại dễ hiểu hơn đôi chút.

Nền kinh tế Mỹ giống như người nợ nầng và nghiện ngập quá độ (vì cả dân chúng và nhà nước chi xài nhiều hơn tiền làm ra) khiến rơi vào căn bệnh ngặt nghèo (tức là khủng hoảng 2007-09). Bác sĩ (hay Quỹ Dự Trử Liên Bang) phải cho liều thuốc cứu cấp cực mạnh (liên tục bơm các gói kích cầu hàng ngàn tỷ đô-la). Đến nay bệnh nhân đã thoát chết thì bác sĩ phải tìm cách cắt giảm thuốc hồi sinh, đồng thời chính người bệnh phải đủ ý chí bỏ cai thuốc phiện thì mới hoàn toàn phục hồi.

Nước Mỹ từ năm 2000-07 đánh mất nhiều công ăn việc làm do ngành sản xuất bị di chuyển sang các nước chậm tiến với giá nhân công rẻ; bên cạnh đó chi phí về y tế và xã hội tăng vọt, cộng thêm gánh nặng từ hai cuộc chiến tranh tại A-Phú-Hãn và Iraq. Tuy vậy vì được xem như nền kinh tế vững mạnh nhất thế giới nên Hoa Kỳ vẫn dễ dàng vay mượn để tiêu xài, và là chổ cất tiền của thế giới. Các món tiền khổng lồ này được những tay phù thuỷ tài chánh của Wall Street biến hoá thành nhiều khoảng tín dụng cho vay cẩu thả và tạo thành bong bóng địa ốc. Trong một khoảng thời gian dài cả nước Mỹ hài lòng như người đang say thuốc phiện, dân chúng cảm thấy giàu có vì giá trị nhà cửa và đầu tư nhảy vọt trong khi địa ốc tạo ra một số lớn công ăn việc lớn bù đắp cho các mất mát trong ngành công nghệ.

Dĩ nhiên là tình trạng này không thể kéo dài đến khi các khoảng nợ xấu bị phát hiện và đe doạ hệ thống ngân hàng. Thị trường tài chánh, địa ốc và chứng khoáng đồng loạt xụp đổ vào các năm 2007-08. Rất may là Quỹ Dự Trữ Liên Bang đã học bài từ cuộc Đại Khủng Hoảng để tung ra hàng ngàn tỷ đô-la cứu vãn các ngân hàng thương mại và đầu tư, rồi sau đó mỗi tháng tiếp tục bơm vào 40 tỷ USD vào nền kinh tế.

Nhờ có nguồn tiền dồi dào nên lãi suất được giữ ở mức cực thấp. Dân chúng vay tiền giá rẻ để mua nhà nên ngành địa ốc đang dần phục hồi. Hảng xưởng trước đây thắt lưng buộc bụng nay bắt đầu mướn người và đầu tư, Giới tiêu thụ bớt lo âu và mua sắm trở lại giúp thị trường chứng khoáng nhảy vọt theo đà lợi nhuận của các công ty. Tỷ lệ thất nghiệp vẫn còn rất cao ở khoảng 7.8% nhưng đang thuyên giảm. Nhìn chung nền kinh tế Mỹ đang phục hồi, và đã sắp đến lúc Quỹ Dự Trữ Trung Ương phải chuẩn bị ngừng thuốc cấp cứu, tức là không bơm tiền vào kinh tế nửa.

Việc này không dễ và đòi hỏi tài năng tương tợ như một vi lương y. Bệnh nhân trở thành lệ thuộc vào thuốc cấp cứu như các thị trường chứng khoáng và địa ốc đã quen với lãi suất thấp. Nổi lo hiện thời của Quỹ Dự Trử Trung Ương là dừng thuốc quá đột ngột sẽ tạo thành cú “sốc” cho nền kinh tế khiến giá cả nhà cửa và cổ phiếu bị sụt mạnh, dân chúng hoang mang bớt tiêu xài vạ lây đến việc buôn bán của các công ty và làm tăng tỷ lệ thất nghiệp. Còn cứ bơm tiền hoài cũng không thể được vì còn sẽ phải chuẩn bị đối phó với nạn lạm phát tăng vọt sau này.

Một nổi lo khác lâu dài của Quỹ Dự Trử Trung Ương cũng giống như ông bác sĩ lo ráo riết chửa chạy nên lại khiến cho bệnh nhân đâm ra thờ ơ vô trách nhiệm! Nhờ vào biện pháp tài chánh hữu hiệu giúp nền kinh tế dần hồi phục, nên cả Tổng Thống Obama và Quốc Hội lại đâm ra ỷ lại và không chiụ hợp tác giải quyết tận gốc cuộc khủng hoảng tức là hai vấn đề ngân sách và thuế khoá. Cả hai đảng Dân Chủ và Cộng Hoà cứ tranh cải đến mức nhà nước bị tê liệt, trong khi đó nền kinh tế cứ dần cải thiện nên dân chúng sinh ra tâm lý… mặt kệ đối với ông Chính Phủ!

Nhưng điều mà mọi người phải nhớ rằng đã sắp đến lúc hết việc cho ông bác sĩ tài giỏi. Căn nguyên trị liệu nằm chính nơi người bệnh có can đảm bỏ thuốc phiện và sống điều độ thì mới phục hồi sức khoẻ. Nếu Hành Pháp, Quốc Hội và dân chúng Mỹ không đủ ý chí để chiụ đau đớn khi cắt giảm chi tiêu (chẳng khác gì bị thuốc hành lúc cai nghiện) thì một đợt khủng hoảng mới thế nào cũng đến, và khi đó người bệnh có thể… hết thuốc chửa!

Saturday, March 23, 2013

Mỹ, Trung, Nga: chính sách ngoại giao của ba cường quốc


Ba cường quốc Mỹ - Trung - Nga đã từng một thời tạo thế chân vạc trong Chiến Tranh Lạnh. Sau khi Bức Màn Sắt bị sụp đổ tới phiên Hoa Kỳ chiếm ưu thế gần như tuyệt đối trong một khoảng thời gian ngắn vào cuối thế kỷ 20, nhưng đến nay hai đối thủ còn lại đều tái phục hồi vai trò chủ động của mình trong nhiều diễn biến quốc tế. Tương quan lực lượng tuy thay đổi so với quá khứ nhưng cả ba quốc gia đều quen thuộc với các tính toán chiến lược nhằm gây lợi cho mình và tạo thiệt hại đến đối phương.

Điều đáng ngạc nhiên là Nga-Hoa vào thế kỷ thứ 20 vốn kêu gọi  phát huy cách mạng vô sản ra toàn cầu, nhưng đến nay lại theo chính sách duy lợi nhuận (mercantile) của thị trường tự do và chủ trương không can thiệp vào nôi tình nước khác. Trong khi đó Âu-Mỹ là các nước tư bản tiên tiến hàng đầu, nhưng nền kinh tế của khối này hiện phát triển chậm đi so với hai cường quốc cộng sản và hậu cộng sản nói trên. Ngược lại Tây Phương lại đứng ra cổ vỏ cho phong trào dân chủ tự do tại nhiều khu vực như Bắc Phi và Miến Điện.

Cho dù giữa các nước đều tích cực trao đổi mậu dịch nhưng kế hoạch về an ninh của mỗi quốc gia đều bị đối phương nghi ngờ như âm mưu kềm chế lẩn nhau. Trong lúc Mỹ - Hoa có tầm nhìn xa của hai cường quốc dẫn đầu thì trái lại Nga không có được nhận thức rỏ rệt về vai trò của mình trong thế kỷ thứ 21. Tuy nhiên chính sự thiếu sót này đã giúp cho Mạc Tư Khoa có những tính toán đoản kỳ khiến bàn cờ thế giới càng thêm phức tạp.

NGA

Nga có những ưu thế về (1) tài nguyên thiên nhiên (2) công nghiệp quốc phòng (3) chiếc ghế trong Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc. Ngược lại, Mạc Tư KHoa cũng phải đối đầu với ba thử thách về (a) dân số ngày càng giảm (b) nạn độc tài và tham nhũng (c) nền công nghiệp thua kém quốc tế ngoại trừ trong hai lãnh vực năng lượng và vũ khí. Tổng thống Putin biết khai thác khéo léo các lợi thế của nước Nga nhưng lại yếu kém trong việc giải quyết những vấn nạn nội bộ.

Nga là nguồn cung cấp dầu hoả và khí đốt hàng đầu đến Trung Quốc, Âu Châu và cả Nhật Bản và Nam Hàn. Tuy là nguồn lợi kinh tế chính yếu nhưng Mạc Tư Khoa sẽ không ngần ngại xử dụng như con bài chiến lược khi cần thiết.

Giá dầu khi nhảy vọt thường do khủng hoảng ở Trung Đông, hoặc nền kinh tế toàn cầu phát triễn nhanh khiến nhu cầu năng lương tăng theo. Đây lại dịp để Nga thu thêm lợi tức từ bán dầu, cho nên Mạc Tư Khoa có lý do để dùng lá phiếu phủ quyết trong Hội Đồng Bảo An Liên Hiệp Quốc nhằm ngăn chận các biện pháp dứt khoát để kéo dài tình trạng bất ổn tại Trung Đông. Bên cạnh đó Nga còn phải bênh vực các khách hàng mua vũ khí tại Trung Đông, cũng như hậu thuẩn những nước như Iran và Syrie nhằm ngăn chận thế lực của Tây Phương.

Nga khai thác tình hình căng thẳng giữa Trung Quốc – ASEAN - Ấn Độ để bán vũ khí cho mọi phía. Nga vận động khối BRIC (bao gồm Brazil – Nga - Hoa - Ấn) để tìm đối trọng với thế lực Âu Mỹ trong nhiều lãnh vực về kinh tế, chính trị, mậu dịch và tiền tệ.

Hai nước Nga - Hoa tạm gác qua các tranh chấp biên gới ngày nào mà Mạc Tư Khoa còn bán, và Bắc Kinh còn mua khí đốt và dầu hoả. Nga xuất cảng vũ khí để giúp Hoa Lục tăng cường khả năng quân sự đối với Mỹ - Nhật, nhưng đồng thời vẫn chuẩn bị hai vũ khí năng lượng và nguyên tử làm lá bài tẩy phòng khi Bắc Kinh trở mặt.

Nga lợi dụng tranh chấp hải phận giữa Nhật - Trung Quốc - Nam Hàn để chiếm giữ vài quần đảo của Nhật. Mạc Tư Khoa xây đường dẫn khí đốt trực tiếp sang Tây Phương chạy theo hai con đường vòng Bắc và Nam Âu, chủ đích nhằm cô lập các lân bang như Ba Lan, Georgia để biến dần thành khu vực sân nhà giống như đối với Liên Bang Xô Viết trước đây.

Vấn đề tương lai là Nga sẽ thay đổi thế nào trong giai đoạn hậu Putin? Tổng thống nước Nga hiểu rất thấu về các nhu cầu (1) xây dựng dân chủ (2) duy trì ổn định cho kinh tế (3) tăng cường tính cạnh tranh trong công nghiệp. Nhưng trước mắt ông chỉ theo đuổi những biện pháp để cũng cố uy quyền nên không ai rỏ nước Nga sẽ đóng vai trò nào về lâu dài trong thế kỷ 21. 

TRUNG QUỐC

Hoa Lục nhanh chóng nhảy vọt thành siêu cường hạng nhì và có thể qua mặt Mỹ trong vài chục năm tới đây. Tham vọng của Bắc Kinh không phải để duy trì trật tự toàn cầu hiện giời mà phải vẽ lại một bản đồ thế giới mới cho phù hợp với quyền lợi của Trung Quốc.

Mục tiêu của Bắc Kinh rất đơn giản là nhằm thực hiện Giấc Mơ Trung Quốc, trong đó nếu Hoa Lục không trở thành trung tâm vũ trụ thì ít ra cũng phải là một trong hai hay ba tâm điểm quan trọng nhất của thế giới. Trái với Nga vốn đi theo cơ hội chủ nghĩa thì Hoa Lục dù theo chính sách duy lợi nhuận nhưng lại có tầm nhìn rất dài hạn.

Nhà lãnh đạo lão thành Lý Quang Diệu nhận xét rằng Hoa Lục sẽ cố tránh chiến tranh với Mỹ. Nếu cần họ sẽ chấp nhận đứng ngang hàng với Hoa Kỳ trong thế kỷ thứ 21 để có thêm thời gian chuẩn bị vươn lên hạng nhất trong thế kỷ 22!

Người viết không khỏi thán phục chính sách mềm dẽo và táo bạo của Đảng Cộng Sản Trung Hoa từ năm 1949 với hai thành quả nổi bật: (1) loại trừ được Liên Bang Xô Viết vốn là mối đe doạ sống còn từ bên ngoài, và (2) mở cánh cửa cho tư bản nước ngoài đầu tư đẻ canh tân hoá đất nước. Trong Chiến Tranh Lạnh họ đã liên kết với Mỹ để kềm chế Liên Xô thì nay họ hợp tác với Nga để tạo khó khăn cho Mỹ và Nhật.

Hai sự kiện vào năm 2001 (khủng bố tấn công vào Hoa Kỳ), và 2007 (khủng hoảng kinh tế bắt đầu tại Âu-Mỹ) là các món quà bất ngờ cho Bắc Kinh: Hoa Kỳ bận rộn đối phó với Hồi Giáo cực đoan nên không chú trọng vào vùng Đông Á, đây là thời cơ để Trung Quốc phát huy thanh thế ở Thái Bình Dương.

Ngày xưa Thành Các Tư Hản tung vó ngựa để chinh phục thế giới thì nay Trung Quốc tràn ngập địa cầu với … hàng hoá giá rẻ, cộng thêm hiện diện của cộng đồng gốc Hoa tài giỏi và chiụ khó ở khắp nơi nơi. Nhiều quốc gia dù nhìn thấy tham vọng chiến lược của Bắc Kinh nhưng không thể nào cắt đứt quan hệ thương mại với Hoa Lục. Thêm vào đó Trung Quốc tiếp tục tăng cường nhanh chóng uy thế quốc phòng và của đồng Nhân Dân Tệ cho phù hợp với vị trí của một siêu cường.

Nhiều sáng kiến để liên kết trong khối BRIC và Hợp Tác Thượng Hải được xem như nổ lực nhằm cạnh tranh với các định chế quốc tế thành hình bởi Tây Phương. Tuy nhiên thế giới hiểu rỏ ý đồ của Bắc Kinh (lấy Trung Quốc làm tâm điểm) nên các tổ chức này khó lòng được nhiều nước chấp nhận thay thế cho các cơ chế như WTO, World Bank và IMF.

Một trật tự thế giới mới do Hoa Lục thống trị rất dễ hình dung: thu hút công nghệ và các nguồn tài nguyên thiên nhiên từ mọi lục địa; chế biến, sản xuất và bán hàng hoá ra khắp thế giới . Lợi nhuận sẽ bơm vào đầu tư, quốc phòng, chính sách tiền tệ và các nhà cầm quyền thân thiện với Bắc Kinh để bảo vệ cho guồng máy hoạt động không bị trở ngại. 

Bốn mối lo tâm phúc của Bắc Kinh về chiến lược gồm (1) tránh chiến tranh với Mỹ (2) bảo vệ con đường vận chuyển dầu hoả quá dài từ Trung Đông vòng qua Nam và Đông Á (3) không trở thành mục tiêu của phong trào Hồi Giáo cực đoan một khi sự hiện diện của người Hoa ngày càng rỏ nét (4) bảo vệ một khu vực trái độn không cho phép thành hình một nước dân chủ tự do sát biên giới với Hoa Lục.

HOA KỲ

Đà tuột dốc của Hoa Kỳ từ vị trí siêu cường duy nhất thế giới vào đầu năm 2000, đến nay lại sa sút trong nhiều thử thách triền miên từ nội bộ ra đối ngoại thật là nhanh chóng không thể ngờ trước.

Thế giới chỉ trong 10 năm thay đổi từ đơn cực sang đa cực, nơi đó không còn một nước nào dù Mỹ hay Hoa nắm lấy vai trò thống trị. Nhịp độ rất gấp rút khiến nhiều nước cảm thấy chao đảo và tìm đến Hoa Kỳ như một cây cổ thụ để nương tựa. Tuy nhiên nước Mỹ - cũng giống như Trung Quốc – phải giải quyết nhiều mâu thuẩn nội bộ xong mới có khả năng can thiệp ra ngoại quốc một cách lâu dài.

Điều bất ngờ khác là khối dân chủ tư bản Tây Phương bao gồm Âu-Mỹ-Nhật đều mất tính cạnh tranh trước các nước đang trổi dậy ngày càng lớn mạnh. Nhiều sách vở đã phân tích về một thế giới hậu Hoa Kỳ (post-American) hay một cuộc xoay chuyển trọng tâm hành tinh từ Tây sang Đông (tetonic shift from West to East).

Sự trì trệ về kinh tế - chính trị của Âu - Mỹ - Nhật khiến mô hình dân chủ tư bản của Tây Phương mất đi ít nhiều sức hấp dẫn: nếu mục tiêu của xã hội dân chủ nhằm khai phóng cá nhân để dược tự do sáng tạo và mưu cầu hạnh phúc, thì khi áp dụng mô thức này đã giúp các khối lợi ích tranh giành quyền lợi làm xã hội bị phân hoá.

Cụ thể ngày này mỗi lần Hoa Kỳ (hay IMF) khuyến cáo các nước đang mở mang đừng lạm chi phung phí ngân sách thì nhiều chính phủ phê bình ngược lại rằng chính Tây Phương cũng không khá gì hơn.

Khác với quá khứ, mối đe dọa ngày hôm nay cho Mỹ không đến từ bên ngoài do chủ nghĩa Phát Xít (Đức Quốc Xã) hay Cộng Sản (Liên Bang Xô Viết) mà bắt nguồn từ trong chính mô hình xã hội dân chủ của Hoa Kỳ khiến nhà nước bị trì trệ không giải quyết được nhiều vấn nạn. Trường hợp này cùng đồng thời đang xảy ra tại Âu Châu và Nhật Bản.

Cho đến những năm gần đây Hoa Kỳ tưởng chừng không cách nào thoát khỏi cuộc chiến kéo dài và tốn kém với khối Hồi Giáo cực đoan do nhu cầu nhập cảng dầu hoả từ Trung Đông. Nhưng bất ngờ có phát minh đột phá về kỷ thuật khai thác dầu hỏa từ đá phiến giúp Mỹ có triển vọng trở thành một quốc gia xuất cảng năng lượng trước năm 2020. Điều này có nhiều ý nghĩa sâu xa về ngoại giao.

Do trở thành nước sản xuất dầu khí hàng đầu nên Mỹ có thể giảm nhẹ hiện diện tại các vùng Hồi Giáo ở Trung Đông và Trung Á nhằm giới hạn xung đột. Cho dù không thể nào bỏ quên khu vực này nhưng Hoa Kỳ có thêm thời gian để theo đuổi một chính sách ngoại giao dài hạn (hoặc chờ các xáo trộn lắng dần). Trong khi đó Trung Quốc và Ấn Độ ngày càng lệ thuộc vào nhập cảng năng lượng nên sẽ phải ra mặt bảo vệ quyền lợi của mình, và dễ trở thành mục tiêu mới của phong trào Hồi Giáo cực đoan.

Một cuộc khủng hoảng giá dầu sẽ giúp cho Mỹ (và Nga) thêm lợi lộc, trong khi Trung Quốc - Ấn Độ - Tây Âu - Nhật Bản - Nam Hàn - v.v… gặp nhiều khó khăn, nhờ đó mà Hoa Kỳ có thể tăng cường uy thế chính trị trên trường quốc tế.

Thái độ hung hăng của Bắc Kinh đối với Biển Đông tạo cơ hội để Hoa Kỳ công khai chuyển trọng tâm chiến lược sang Thái Bình Dương và cũng cố quan hệ với các đồng minh lâu đời như Ấn Độ - Singapore - Úc - Nhật – Nam Hàn. Cho dù không một nước nào (kể cả Hoa Kỳ) muốn thành hình một liên minh chống Trung Quốc nhưng sự kết nối này cũng đủ để tạo áp lực không nhỏ đến Bắc Kinh.

Nhu cầu ổn định tại Trung Đông và Đông Á khiến Trung Quốc ngày càng thấy cái giá nặng nề phải trả để tiếp tục hậu thuẩn Iran và Bắc Hàn, nhưng Bắc Kinh không có biện pháp nào để thay đổi chính sách.

KẾT LUẬN


Hoa Kỳ hiện có vài lợi điểm trên chiến lược toàn cầu, nhưng các ưu thế này vẫn còn dựa trên nhiều yếu tố rất mong manh như triển vọng khai thác năng lượng từ đá phiến, và chương trình giảm bớt hiện diện ra khỏi Nam Á và Trung Đông không đưa đến những xáo trộn bất ngờ và dây chuyền.

Trái lại Trung Quốc tiếp tục dựa vào đà tiến của mậu dịch, và trong cuộc tranh chấp tại Đông Á thì Hoa Lục là nước ở gần trong khi Mỹ ở xa. Bắc Kinh có thể tập trung vào khu vực lân cận trong khi Hoa Kỳ bị phân tán từ Đông sang Tây.

Nước Nga dưới thời Putin theo cơ hội chủ nghĩa, thì sau năm 2020 sẽ thay đổi thế nào không ai rỏ.

Các thế trận cho dù rất mù mờ nhưng dần thành hình. Có lẻ phải đợi thêm 10 năm nửa mới dần rỏ nét.