Wednesday, May 16, 2012

Khủng hoảng kinh tế Âu Châu: tại sao không dứt?


Nhiều người thắc mắc tại sao các nước Nam-Âu đã cắt giảm chi tiêu từ hơn 1 năm nay mà nợ nần cứ chồng chất và không thoát ra khủng hoảng.

Chúng ta so sánh cho dễ hiểu với trường hợp của một người bệnh nhưng mang nhiều nợ. Muốn giải quyết phải cắt bớt các khoảng chi tiêu không cần thiết, nhưng đồng thời vẫn cần tiền mua thuốc tẩm bổ để đi làm trả nợ. Những chủ cho vay cũng phải thông cảm để giúp đỡ vì nếu anh ta không có sức đi làm thì nợ sẽ bị mất trắng! Cũng thế các nước Nam-Âu tuy khắc khổ nhưng cần được giúp đỡ tăng trưởng thì mới thoát ra khỏi tình trạng nợ nần.

Cách thức thông thường là phá giá đồng bạc. Lạm phát tăng nên cả nước tự động mất sức mua và bớt tiêu thụ; nhưng cũng nhờ vào đó lương bổng và hàng hoá sản xuất nội địa trở nên rẻ so với nước ngoài, xuất cảng và đầu tư ngoại quốc tăng nên kinh tế có hy vọng hồi phục. Giải pháp này không đơn giản vì sinh hoạt của giới lao động và trung lưu bị ảnh hưởng nặng nề bởi cơn bảo giá, các doanh nghiệp điêu đứng do lãi suất tăng cao trong lúc nhà giàu giữ ngoại tệ, vàng bạc và địa ốc thì ít bị ảnh hưởng hoặc có khi còn lời to!

Nhưng trường hợp của Nam-Âu lại rắc rối hơn thế vì nằm trong Liên Hiệp Châu Âu nên không thể tuỳ tiện phá giá đồng Euro. ECB (Eurpean Central Bank tức Ngân Hàng Trung Ương Âu Châu), Đức cùng các nước Bắc Âu vốn có nền kinh tế mạnh lại muốn kềm giữ chống lạm phát trong khu vực. Vì thế các nước Hy Lạp, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha, Ý và Pháp chỉ còn cách giảm chi tiêu để trả nợ. Nhưng cắt ngân sách thì lại sanh ra vấn nạn như giảm nơi nào trước: an sinh xã hội hay quốc phòng, hưu bổng hoặc giáo dục, y tế hay giao thông?

Chọn lựa thế nào cũng bị chống đối nhưng kết quả vẫn là thất nghiệp lên cao, dân chúng không dám tiêu xài khiến doanh nghiệp khốn đốn; GDP sút, thuế thu vào giảm nên nợ ngày càng khó trả. Các nhà đầu tư thấy quá nhiều rủi ro đành phải tăng lãi xuất cho vay để phòng hờ thua lổ khiến những nước Nam-Âu thêm kiệt quệ vì không có khả năng mượn tiền tăng trưởng kinh tế. Cái vòng lẩn quẩn này thật đáng lo sợ vì không có cách thoát ra!

Khoảng hai tháng trước ECB thoả thuận với những nhà đầu tư hai biện pháp. Một là các chủ nợ chiụ lổ cho mượn 1 đồng nay chỉ thu về 30 xu - dân trong nghề gọi là bị xởn tóc hay là haircut – lý do vì cho vay bừa bải nay phải gánh phần thua lổ. Nhưng nếu ngân hàng bị thiệt hại nặng quá đâm phá sản thì khủng hoảng sẽ lan rộng nên ECB nhận bảo đảm để nợ sẽ không bị xoá trắng. Các nhà đầu tư hơi an tâm nên công phiếu của Hy Lạp  bán được với lãi xuất tương đối thấp. Nhưng trải qua hai tháng những chủ nợ lại nhận thấy tăng trưởng không có mà xã hội ngày càng động loạn, thất nghiệp vẫn cao trong khi dân chúng và công đoàn biểu tình chống các biện pháp khắc khổ - giống như một người bệnh đã không đủ sức khoẻ đi làm trả nợ mà trong gia đình vợ chồng con cái lại còn cải nhau.

Dân Hy Lạp bị mất việc, cắt lương, mất quyền lợi xã hội suốt hai năm trời nên thất vọng bỏ phiếu bầu một chính quyền mới đòi nới lỏng chính sách cần kiệm. Hàng trăm ngàn người Tây Ban Nha biểu tình rầm rộ chống đối thắc lưng buộc bụng. Giả sử hai nền kinh tế hạng ba và tư của Âu Châu là Ý và Tây Ban Nha sụp đổ nếu muốn cấp cứu cần đến 40 ngàn tỷ USD - tức là hết phương cứu chữa!

Dân Pháp cũng phản đối các biện pháp cần kiệm bằng cách bầu cho Tân Tổng Thống Hollande khiến liên minh Pháp-Đức bị rạn nứt. ECB và Đức đòi hỏi Nam Âu phải tôn trọng các thoả ước giảm chi trước đây thì mới tiếp tục tài trợ. Pháp và các nước Nam Âu yêu cầu nới lỏng các biện pháp khắc khổ để thúc đẩy tăng trưởng. Âu Châu lại chao đão như một con tàu thiếu chỉ huy.

Nhưng đòi gì thì đòi, đầu tiên vẫn là tiền đâu: dân Nam Âu hết chiụ nổi khắc khổ nhưng ngân sách đã cạn, tiền vay với lãi xuất đắt đỏ thì có muốn tăng chi cũng không được. Chủ trương của Hollande như tăng thuế nhà giàu lên 75% để trang trải cho chi phí xã hội, và giảm tuổi hưu trí xuống còn 60 tuổi chỉ là hứa để đắc cử nhưng nếu thực hiện chính là giết tăng trưởng. Dù vậy dân chúng ngày càng phẩn nộ, chính quyền nào không thoả mãn nhu cầu tức thời thì họ biểu tình động loạn hay bỏ phiếu cho thất cử trong lúc cả khu vực không tìm ra lối giải thoát. Trường hợp này giống như cho một người nghiện nghập lo mua thuốc phiện cho bớt cơn ghiền, hoặc đập phá để thoả cơn tức giận chớ không chiụ tẩm bổ phục hồi sức khoẻ và đi làm trả nợ!

Giả thuyết tệ hại nhất là Hy Lạp, rồi Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha tách rời ra khỏi khối Euro để có được chính sách tiền tệ độc lập và phá giá đồng bạc, trong khi lần đầu tiên từ sau thế chiến thứ hai có rạn nứt giữa Đức và Pháp.  Âu Châu vốn được xem như kiểu mẫu của mô hình dân chủ xã hội (social democrat), hình ảnh tiêu biểu của khối thịnh vượng và ổn định lớn nhất hành tinh, thì một cuộc khủng hoảng kinh tế và chính trị tại lục địa này sẽ làm suy sụp niềm tin vào cơ chế dân chủ trên toàn thế giới.

Tuesday, May 8, 2012

Lá phiếu của tư bản


Vào ngày chủ nhật 6 tháng 5 khi dân Pháp bầu cử Tân Tổng Thống cánh tả Hollande thì đến ngày thứ hai cả thế giới hồi họp chờ phán quyết của thị trường tài chánh từ Âu sang Á.

Số là chủ trương của ông Hollande nhằm giải quyết tình trạng yếu kém của nền kinh tế khác hẳn với chính sách của vị Tổng Thống đương nhiệm Zarkozy. Dân Pháp thích lời hứa hẹn của Hollande nên mới bỏ phiếu cho ông đắc cử, nhưng còn giới tài phiệt quốc tế liệu có tin vào chương trình của ông này hay không lại là chuyện khác.

Rất may là sang ngày thứ hai thị trường chứng khoáng dù trồi sụt nhưng không thay đổi bao nhiêu. Giải thích hiện tượng này là giới tài chánh đã đánh cá rằng ông Hollande dù hứa hẹn nhiều khi còn là ứng cử viên, nhưng đến lúc đắc cử không thể nào dám quyết đoán đơn phương để đưa nước Pháp, Âu Châu và toàn thế giới vào một cơn khủng hoảng lớn nhất kể từ sau Thế Chiến Thứ Hai. Nhưng bù lại họ sẽ theo dõi sát nút, và trong những ngày tới đây nếu ông Hollande có những lời phát biểu hay hành động mà họ đánh giá bất lợi cho kế hoạch phục hồi thì dân chúng và nền kinh tế Pháp sẽ trả giá rất đắt trên thị trường tài chánh.

Nói cách khác sang thế kỷ 21 nhiều quốc gia chiụ áp lực của hai loại cử tri: lá phiếu của dân chúng trong nước, và phán quyết của giới đầu tư quốc tế. Cả hai cuộc bầu cử này đều có thể làm điêu đứng hay đổ nhào một chính quyền!

Hơn thế nửa, một chính trị gia có thể hứa bóng gió với cử tri để đắc cử rồi sau đó không giữ lời hứa mà dân chúng không làm được gì cho đến khi hết nhiệm kỳ. Trái lại giới tài phiệt vì sợ thua lổ nên lúc nào cũng theo dõi chằng chặt nhất là trong hoàn cảnh kinh tế bấp bênh.

Các nhà đầu tư quốc tế bỏ phiếu bất tín nhiệm qua thị trường chứng khoán trong nước – trong trường hợp các nền kinh tế lớn như Pháp Mỹ ảnh hưởng đến cổ phiếu toàn cầu; hoặc tăng lãi xuất cho vay; hay áp lực phá giá đồng bạc trên thị trường tự do; hoặc do chính 3 công ty lượng giá tín dụng Standard and Poor’s, Moody’s và Fitch nâng cao tín chỉ rủi ro. Lối bầu cử này công khai và dân chủ (!), lại mang đến ảnh hưởng tức thời nhưng không kém phần hữu hiệu so với những biện pháp dài hạn của thế kỷ 18, 19 và 20 như cắt giảm đầu tư trực tiếp, xách động biểu tình phản đối hay tổ chức đảo chánh lật đổ chính quyền!

Nhưng không phải lúc nào các nhà đầu tư cũng bỏ phiếu ngược so với dân chúng. Tiêu biểu là trước cuộc khủng hoảng địa ốc tại Mỹ năm 2007 thì cả giới tài chánh lẫn dân chúng đều mất cảnh giác và đồng tình hưởng lợi cho dù bong bóng đã căng cứng.

Giới tài phiệt không phải lúc nào cũng đúng. Điển hình như cả ba công ty lượng giá quốc tế đều cho điểm an toàn cao nhất (AAA+) nơi các đầu tư cực độc (toxic investments) mà chỉ 6 tháng sau làm điên đảo nền kinh tế Hoa Kỳ.

Nhưng dù đúng hay sai, thế lực tài chánh quốc tế là một thực thể chính trị không thể bị bỏ qua trong thế kỷ 21.

Sunday, April 22, 2012

Khủng hoảng kinh tế Âu Châu vẫn chưa dứt


Câu chuyện nợ nần tại các nước Âu Châu tưởng như một bộ phim đã kéo dài nhiều tập mà vẫn chưa đến hối kết cục.. Vừa hai tháng trước có chút hy vọng đã tìm ra giải pháp, đến nay lại đứng đầu sổ đen có thể ngã đổ và kéo theo nền kinh tế toàn cầu suy sụp.

Một quốc gia muốn thoát khỏi trì trệ thì nhà nước phải  cắt giảm chi tiêu công đồng thời giúp đỡ khu vực tư gia tăng sản xuất bằng cách ngân hàng  bơm tín dụng vào kinh tế. Nhưng việc này khiến tiền mất giá sanh ra lạm phát. Cái khó của chính quyền là chọn lựa chữa căn bệnh nào trước, hoặc thúc đẩy tăng trưởng hay ngăn chận lạm phát.

Chính sách của ECB tức Ngân Hàng Trung Ương Âu Châu (European Central Bank) từ ngày thành lập năm 1998 nhằm kiểm soát tiền tệ để ngăn chận lạm phát, tức phù hợp với chủ trương của Đức vốn là nền kinh tế lớn nhất của khối Euro. Khi các nước Nam Âu lâm vào khủng hoảng thì chủ nợ gồm nhiều ngân hàng cho vay nợ công hốt hoảng kiểm soát gắt gao tín dụng khiến khu vực tư cũng bị ảnh hưởng. Một bên nhà nước cắt giảm công chức và các chi tiêu xã hội nên dân chúng phải bớt tiêu xài, măt khác các doanh nghiệp vừa và nhỏ không vay mượn được vốn để cầm cự nên khu vực tư cũng suy sụp – do đó khủng hoảng cứ kéo dài và ngày càng trầm trọng.

Khoảng hai tháng trước đây ECB thay đổi chính sách vừa bảo đảm nợ công cho các nước Nam Âu sẽ không bị quịt, đồng thời cho ngân hàng vay 600 triệu USD để tăng tín dụng cho tư nhân. Nhiều nhà đầu tư thấy bớt rủi ro nên mua công phiếu ngắn hạn của Hy Lạp với lãi xuất tương đối thấp. Nhưng rồi một phản tác dụng bất ngờ  xãy ra là các chủ ngân hàng rất khôn ngoan tiếp tục mua thêm nợ công (vì được ECB bảo đảm) nhiều hơn là cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ vay mượn. Đến giờ thì mọi người lại bắt đầu lo sợ vì nhận thấy rằng các nền kinh tế Nam Âu ng ày thêm trì trệ,do tình trạng thất nghiệp vừa công lẫn tư lên đến 20% - tức là ngang bằng với cuộc Đại Khủng Hoảng 1929 – trong đó gần phần nửa thanh niên ở lớp tuổi 18-25 không tìm ra công ăn việc làm. Không tăng trưởng thì không thể nào trả nợ, nên kết quả là lãi suất lại tăng trong đợt bán công phiếu vừa rồi của Tây Ban Nha vì các nhà đầu tư thêm một lần nửa bị mất tin tưởng.

Các nước lớn trong khối Euro tháng  rồi vội vã tăng Quỹ Bình Ổn Âu Châu từ 500 tỷ lên đến 1000 tỷ USD. Thấy được quyết tâm chận đứng khủng hoảng nên các quốc gia bên ngoài như Nhật, Anh, Saudi Arabia vàv Nam Hàn cũng đóng góp thêm 430 tỷ USD cho quỹ cứu trợ khẩn cấp của IMF. vì nếu Âu Châu ngã nhào thì thế giới khó tránh khỏi một cuộc Đại Khủng Hoảng  và nước nào cũng bị liên lụy. Các bước nói trên nhằm mua thời gian cho khu vực Nam Âu giải quyết những vấn đề nội bộ, và trong trường hợp xấu nhất sẽ cứu vớt không để ngân hàng phá sản và khủng hoảng lây lan ra toàn thế giới. Hoa Kỳ dù không bỏ vốn nhưng thúc đẩy hệ thống ngân hàng Mỹ hợp tác với Âu Châu nên cũng đã góp phần tích cực.

 Trung Quốc, Nga, Ấn Độ và Brazil  là những quốc gia đang phát triển nhưng lại nhiều tiền mặt đều hứa hẹn sẽ đóng góp cho IMF nhưng chưa cho biết là bao nhiêu. Họ muốn dùng cơ hội này để đòi hỏi vai trò quan trọng hơn trong IMF và World Bank.  Điều này cũng phù hợp với trọng lượng kinh tế ngày càng tăng của khối BRIC. Điểm đáng nói ở đây là Tây Phương gồm toàn các quốc gia công nghịệp nay phải đi cầu cạnh để được giúp đỡ. Chúng ta đang chứng kiến một cuộc đổi đời hiện đang làm thay đổi bộ mặt kinh tế chính trị xã hội toàn cầu! 

Sunday, April 1, 2012

Rút tỉa về cuộc vận động chính trị của người Việt lên Toà Nhà Trắng

Chiến dịch Thỉnh Nguyện Thư vào tháng 03-2012 đánh dấu một bước tiến lịch sử của cộng đồng người Mỹ gốc Việt: thu thập 150 ngàn chử ký trong một thời gian ngắn kỷ lục; gởi phái đoàn đại diện từ các tiểu bang đến gặp giới chức toà Nhà Trắng. Dù kết quả thành công ít nhiều tuỳ theo đánh giá của mỗi cá nhân nhưng chúng ta vẫn có thể rút tỉa kinh nghiệm để làm tốt hơn trong tương lai.

Nền tảng của cuộc vận động nhằm biểu dương một tập thể có đông đảo cử tri và muốn dùng đó để ảnh hưởng lên chính sách của Hoa Kỳ đối với Việt Nam. Chiến dịch này khiến cả hai đảng Cộng Hoà và Dân Chủ quan tâm đến nguyện vọng của quần chúng người Mỹ gốc Việt, nhưng kế tiếp cần thiết phải thành hình các PAC (Political Action Committee - tạm dịch là Uỷ Ban Hành Động Chính Trị) thì những cuộc vận động mới có thể tiến xa hơn nữa.

Lý do vì sau cuộc gặp gở với đại diện cộng đồng như lần vừa rồi các chính trị gia Mỹ vẫnkhông nắm vững nếu họ thực hiện điều A thì sẽ được thêm bao nhiêu lá phiếu tại địa phương nào? 150 ngàn chử ký hay hơn 1 triệu cử tri gốc Việt là những con số trừu tượng - liệu trong các kỳ bầu cử tới số người này có sẽ dồn phiếu hay vẫn chia đều 50/50 như trước đây? Các uỷ ban tranh cử của hai đảng cần có thêm dữ kiện rõ ràng để biến thành kế hoạch hành động (action plan).

Trước hết nói đến cuộc bầu cử tổng thống: giả sử người Mỹ gốc Việt tập trung tại California mà đảng Cộng Hoà hay Dân Chủ đã chắc thắng thua 100% nơi tiểu bang này thì có thêm 500 ngàn lá phiếu họ cũng không quan tâm nhiều! Trái lại tại tiểu bang như Florida mà kết quả bầu cử chỉ hơn thua vài ngàn phiếu thì với một tập thể chỉ 5000 người vẫn có tiếng nói rất lớn – đây là lý do người Mỹ gốc Cuba có ảnh hưởng mạnh trong chính giới Hoa Kỳ vì số dân sống tại Florida.

Bước sang các cuộc bầu cử tại địa phương và nhất là đối với những dân biểu thuộc Hạ Viện, nơi đa số các cuộc tranh cử tỷ lệ thắng thua rất sát chỉ trong vòng 2-5% hay vỏn vẹn vài ngàn phiếu. Người viết tìm hiểu về các PAC của người Mỹ gốc Do Thái nên thấy họ chuẩn bị rất kỷ lưởng.

Trước hết các PAC nghiên cứu và nắm vững những con số thống kê tiên liệu chênh lệch. Kế tiếp họ cho các ứng cử viên biết rằng nếu nguyện vọng A được mang vào chương trình tranh cử thì sẽ được thêm X lá phiếu tại điạ phương Z, còn ngược lại thì số phiếu này sẽ dồn cho đối thủ. Cuối cùng họ tổ chức gây quỹ để chứng minh lời nói và thực lực qua số người tham dự và tiền gây quỹ. Một số ít tiền thu được trực tiếp gởi đến các ứng cử viên nhưng phần lớn do các PAC giữ lại để trang trải cho quảng cáo trên những cơ quan truyền thông theo tư cách “độc lập”. Điều này có hai lý do, một là tiền trao rồi thì mất kiểm soát - thí dụ một ứng cử viên không thực hiện lời hứa thì tiền không cách gì đòi lại; thứ nhì là tiền quảng cáo của các tổ chức quần chúng không bị giới hạn bởi luật pháp như các quỹ tranh cử.

Tập thể gốc Do Thái trên xứ Mỹ khoảng 1-2 triệu người giống như cộng đồng gốc Việt. Vì là thiểu số trong một nước với 311 triệu dân nên nếu trải rộng khắp nơi họ sẽ không tạo tác dụng. Trái lại các PAC nghiên cứu tìm những địa phương chiến lược để đổ dồn tiền ủng hộ. Hấp dẫn nhất khi có một chiếc ghề quan trọng trong Hạ Viện bị lung lay, trong trường hợp điạ phương này có ít người Do Thái họ vẫn dồn tiền từ những nơi còn lại nếu chọn đúng ứng cử viên thì tác dụng trong tương lai rất lớn.

Người Do Thái ưa lý luận độc lập nên tập thể của họ cũng bị chia rẻ. Nhưng chỉ cần vài PAC làm việc hữu hiệu, dù không đại diện cho đa số nhưng vẫn tạo được uy thế chung cho cộng đồng.


Wednesday, March 7, 2012

Do Thái và Biển Đông

Tựa đề bài này không khỏi gây thắc mắc vì giữa Do Thái và Biển Đông có liên hệ gì với nhau? Câu trả lời là chẳng có dính dáng nào cả, nhưng đây mới chính là điều để chúng ta quan tâm.

Khi nền an ninh của Do Thái bị đe doạ thì họ không muốn Hoa Kỳ bị chi phối vào một mặt trận mới. Một nghịch lý trong ngành ngoại giao là Trung Quốc và Do Thái cùng muốn Mỹ chuyên chú vào Trung Đông, Do Thái vì quyền lợi quốc gia còn Hoa Lục thì muốn rảnh tay để bành trướng thế lực.

Dân gốc Do Thái nắm giữ một nguồn tài chánh lớn của Tây Phương[i], trong lúc người Hoa giàu nhất Á Châu. Cả hai bên đều muốn ổn định Mỹ-Trung để buôn bán xuôi chiều thuận gió.  

***

Lịch sử những năm gần đây cho thấy Mỹ không thể cáng đáng nổi cùng một lúc hai mặt trận Trung Đông và Đông Nam Á. Khi Hoa Kỳ hoà hoản với Trung Quốc là họ rút lui ra khỏi Việt-Miên-Lào[ii], lúc đó Do Thái nằm trong hoàn cảnh rất ngặc nghèo vì suýt thua trận năm 1973 nếu không được Mỹ ồ ạt không vận vũ khí vào giờ chót. Cũng thế khi chính quyền George W. Bush chuyên chú về Al-Qeada và Iraq là lúc mà ngành ngoại giao Hoa Kỳ bỏ rơi Đông Nam Á trong suốt 10 năm.

Mối quan tâm của Hoa Kỳ về Trung Đông là chính đáng vì đây là vùng dầu hoả trọng yếu cho nền kinh tế toàn cầu. Tuy nhiên giới vận động hành lang Do Thái có khả năng điều hướng chính sách ngoại giao của Mỹ trở nên thiên lệch, gây nhiều tổn hại đến quyền lợi lâu dài của Hoa Kỳ và các nước bạn[iii].

Trái với chính quyền Cộng Hoà dưới thời George W. Bush, Tổng Thống Obama và Ngoại Trưởng Clinton đã nhiều lần nhấn mạnh biển Đông có tầm quan trọng chiến lược cho Hoa Kỳ. Chính quyền Obama rút quân khỏi Iraq năm 2011 và Afghanistan năm 2014 để không phung phí tài nguyên sinh mạng vào cuộc mạo hiểm quân sự do vị tiền nhiệm gây ra và nhằm cứu vãn uy tín của Hoa Kỳ trên trường quốc tế. Cho dù chính sách của Mỹ sẽ thất bại nếu hai nước này rơi vào độc tài hay nội loạn nhưng Hoa Kỳ không thể tiếp tục sa lầy vào cuộc chiến không lối thoát, và cần phải chia xẻ quan tâm đến các mối đe doạ mới đến từ Đông Á.

Iran mang đến một cơ hội mới để Trung Quốc kềm chân Hoa Kỳ tại Trung Đông.Trong lúc chính quyền Obama vận động quốc tế phong toả kinh tế và chính trị đối với Iran thì Trung Quốc dùng thương mại để trợ giúp, và quyền phủ quyết tại Liên Hiệp Quốc để không cô lập đồng minh thân thiết của Iran là Syria. Thủ Tướng Do Thái Netanyahu lại đến Hoa Thịnh Đốn trong mùa bầu cử nhằm mục đích áp lực Mỹ hậu thuẩn tấn công quân sự Iran. Chiến tranh lúc này sẽ thổi phồng tâm lý chống Tây Phương, ảnh hưởng đến các cuộc cách mạng tại Ai Cập, Syria, Lybia và tình hình an ninh tại Iraq, Afghanistan và Pakistan – và tạo ra cơn cuồng phong siết Mỹ vào Trung Đông trong vòng 3-5 năm tới tức là đúng với ý đồ của  Bác Kinh.

Chính sách hiện thời của Obama là chính đáng: phong toả về thương mại, và chuẩn bị dư luận thế giới trong trường hợp Iran phản ứng trước; đồng thời yểm trợ phong trào quần chúng tại Syria. Điểm yếu nhất của Tehran ở chính nơi nước đồng minh duy nhất này, vì một khi nhà độc tài Assad bị dân chúng lật đổ thì làn sóng dân chủ rất có cơ hội tràn đến Iran.

***

Hai đảng Cộng Hoà và Dân Chủ đều bị áp lực bởi nhóm vận động hành lang Do Thái. Nhưng Tổng Thống Obama đã đặt biển Đông vào trọng tâm chiến lược, trong lúc những cuộc tranh luận giữa các ứng cử viên Cộng Hoà không hề nhắc đến khu vực này mà trái lại đua nhau để làm hài lòng Do Thái. Trong cùng ngày đại diện cộng đồng người Mỹ gốc Việt được toà Bạch Ốc tiếp đón về vấn đề Việt Nam thì Thủ Tướng Netanyahu đã đến Hoa Thịnh Đốn để gặp tổ chức vận động hành lang AIPAC nhằm tạo áp lực lên chính sách của Mỹ tại Trung Đông.

Đây là khía cần được so sánh khi cử tri người Mỹ gốc Việt chọn lựa bỏ phiếu vào tháng 11 tới đây



[i] Ben Bernanke và Alan Greenspan (đương kim và cựu Tổng Giám Đốc Ngân Hàng Trung Ương Hoa Kỳ),  Dominique Strauss-Kahn (cựu Tổng Giám Đốc Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế) Paul Wolfowitz (cựu Tổng Giám Đốc Ngân Hàng Thế Giới) đều là người gốc Do Thái
[ii] Xem bài viết “Bí Ẩn 30-04-1975”của Phạm Trần Hoàng Việt

Sunday, February 19, 2012

Brzezinski và ý kiến về chiến lược toàn cầu mới của Mỹ

Bài viết của cựu cố vấn Hội Đồng An Ninh Quốc Gia Hoa Kỳ Brzezinski là một trong các đóng góp hiếm hoi trên tạp chí Foreign Affairs số tháng 01/02 năm 2012 với tựa đề “Cân Bằng phương Đông, Cũng Cố phía Tây” (Balancing the East, Upgrading the West) theo ba mẫu mực: cô động, dễ hiểu và quan trọng hơn hết là có thể thực hiện được trong khoảng thời gian từ đây cho đến năm 2025.

Với tình hình thế giới phức tạp hiện thời rất khó có một tầm nhìn chiến lược, lâu dài và toàn bộ, nhất là trong lúc cả hai khối Hoa Kỳ và Âu châu bị khủng thoảng về cả kinh tế lẫn hệ thống chính trị. Trong khi đó các nước Trung Quốc – Ấn Độ - Nga – Brazil tuy nổi lên nhanh chóng nhưng xã hội mang nhiều mâu thuẩn như tham nhủng tràn lan, hố sâu giàu nghèo ngày càng sâu đậm. Các nền độc tài được cũng cố nhờ vào kinh tế phát triển, nên đe doạ cho quyền tự do cá nhân. Cộng thêm vào là các tranh chấp giữa Hồi Giáo bảo thủ với Tây Phướng cùng tham vọng dành lại phạm vi ảnh hưởng truyền thống của các nước lớn như Trung Quốc, Nga, Iran, … khiến nhiều nhà lãnh đạo không khỏi tự hỏi trọng tâm chiến lược của Hoa Kỳ vào thế kỷ thứ 21 sẽ đặt tại Âu Châu, Thái Bình Dương hay Trung Đông, và quan trọng không kém, liệu Mỹ có đủ năng lực để cáng đáng các đòi hỏi nặng nề từ nhiều phía hay không?

Bài viết của ông Brzezinski đưa ra cái nhìn là các nhu cầu này không tranh chấp lẫn nhau mà trái lại Hoa Kỳ đã có và sẽ thêm các đồng minh trên thế giới. Ba nền tảng của chiến lược toàn cầu là Âu Châu, Nhật–Nam Hàn và Ấn Độ, tức các khu vực có nền kinh tế phát triển với truyền thống dân chủ vững chắc. Dù Âu-Nhật hiện gặp nhiều khó khăn nhưng họ có khả năng - và Mỹ cần hợp tác chặc chẻ - để vượt qua những trở ngại hiện thời.

Bước quan trọng sắp đến là mang Nga vào cộng đồng Âu châu mở rộng. Nước Nga vẫn còn bị lãnh đạo bởi một thiểu số hoặc còn tầm nhìn lổi thời theo kiểu Chiến Tranh Lạnh, hay dùng thái độ kình chống Tây Phương nhằm phô trương rằng Nga vẫn còn là cường quốc. Nhưng các cuộc biểu tình ôn hoà chống nền độc tài Putin cho thấy dân Nga đã trưởng thành và chọn lựa mô hình dân chủ tự do. Việc xoá bỏ quá khứ tranh chấp giữa Nga và Âu Châu sẽ đến không chỉ do nơi chính sách của giới lãnh đạo, mà vì ý thức quần chúng nay chấp nhận các giá trị nhân bản phổ thông cùng với Tây Phương - giống như trước đây nước Đức đã hiệp thông với Anh-Pháp sau thế chiến thứ hai. Tiến trình hoà hợp này sẽ đi qua hai ngưỡng cửa quan trọng là Ba Lan và Ukraine.

Khi Nga và khu vực Tây Bắc Á thành một khối dân chủ thì Hoa Kỳ có nhiều nước bạn trải dài từ Âu Châu, xuống phía Nam là Ấn Độ và sang hướng Đông gồm Nam-Hàn, Nhật Bản rồi đến Úc Châu. Mối quan hệ này bền vững hơn các nhu cầu giai đoạn vì đặt trên nền tảng giá trị xã hội chung của thế kỷ 21 là dân chủ, tự do cá nhân và kinh tế thị trường. Liên minh chính trị hay quân sự không cần thiết vì sẽ tạo ra một vòng vây chiến lược bao quanh Trung Quốc và chắc hẳn sẽ gặp các biện pháp chống trả mãnh liệt. Trong hoàn cảnh đó vai trò của Mỹ vào thế kỷ 21 là hổ trợ đồng minh để không bị nước lớn uy hiếp, và tham gia để giải quyết các tranh chấp về mậu dịch và biên giới mà không dẫn đến chiến tranh.

Cánh cửa để giải quyết các vấn đề Trung Đông sẽ qua việc thu nhập Thổ Nhỉ Kỳ vào cộng đồng chung Âu Châu. Điều này được Hoa Kỳ ủng hộ nhưng bị nhiều nước Tây Phương phản đối trong quá khứ. Khi các nền độc tài tại Trung Đông bị lung lay thì vai trò hiện tại của Thổ Nhỉ Kỳ ngày càng quan trọng trong khối Hồi Giáo, và là mẫu mực dung hoà giữa hai tổ chức tôn giáo cùng dân chủ tự do. Do đó sự hội nhập thành công  của Thổ vào cộng đồng chung Âu Châu sẽ là mô hình hoà giải giữa Tây Phương và Trung Đông.

Tác giả đề cập đến Đài Loan như một điểm nóng có thể mang đến tranh chấp Mỹ-Hoa, và đề nghị áp dụng công thức “một quốc gia với hai thể chế chính trị” nhằm tránh xảy ra xung đột. Nhưng tác giả đã không nhắc đến các khu vực nhạy cảm khác giữa Do Thái và Trung Đông cùng Iran, tại Bắc Hàn và những tranh chấp biển Đông. Nhưng tựu trung  đây là một bài viết trọn vẹn không chứa quá nhiều khía cạnh để làm loản đi ý chính.

    

Sunday, January 22, 2012

Hiến Pháp và Luật Pháp

Bài này không viết về luật pháp mà chỉ đứng trên cái nhìn xã hội nhằm giải thích một cách đơn giản mối tương quan giữa Hiến Pháp, Luật Pháp với Dân Chủ và Tự Do.

Vào thời cổ đại con nguời hoang dã gần như có tự do tuyệt đối, muốn ăn mặc ngủ lúc nào cũng được không đụng chạm đến ai. Nhưng bù lại người tiền sử phải đơn độc chống lại bệnh tật, thú dữ, thời tiết….

Dần dần nhân loại hợp quần thành hình xã hội. Con người đã đánh đổi một phần tự do để có an ninh, vì khi sống tập đoàn mỗi cá nhân phải chiụ tự giới hạn vào trong khuôn khổ như luật pháp và đạo lý.

Nhà nước được dựng nên để giữ trật tự xã hội. Nhưng quyền hạn dễ bị lạm dụng, nên từ đó nảy sinh ra quan niệm về Hiến Pháp. Đây là một loại khế ước giữa nhà nước và công dân, rằng khi người dân đóng thuế và chiụ thi hành các quy định luật pháp thì bù lại giới cầm quyền phải tôn trọng những quyền căn bản của công dân.

Như vậy mục tiêu chính của Hiến Pháp nhằm bảo vệ quyền tự do cá nhân không bị nhà nước vi phạm. Riêng Hiến Pháp Hoa Kỳ cho rằng mỗi cá nhân được Tạo Hoá ban cho các quyền bình đẳng và quyền được mưu tìm hạnh phúc mà không ai khác có thể tước đoạt.

Xã hội muốn vận hành tốt đẹp phải dựa vào sự đồng ý của đa số nên gọi là dân chủ. Còn nếu bị thiểu số áp đặt ý chí của mình lên tập thể thì gọi là độc tài.

Nhưng cũng có trường hợp dân chủ trở thành độc tài đa số. Điển hình là tại vài nước Trung Đông tập thể Hồi Giáo bầu ra nhà nước giáo hội với mục đích ban hành các luật lệ áp bức người dân thuộc tôn giáo khác. Trường hợp này cũng đã xảy ra cho giới phụ nữ, người da màu, v.v… Trừ trường hợp xảy ra bạo loạn còn nếu không muốn giải quyết các tình trạng này phải có một Hiến Pháp tốt và được tôn trọng để người dân có thể kiện cáo nếu nhà nước hay luật pháp vi phạm quyền tự do của mình.

Nói cách khác, chỉ có nhà cầm quyền hay luật pháp mới vi phạm Hiến Pháp chớ người dân không thể vi phạm Hiến Pháp. Như vậy Hiến Pháp là một thứ siêu luật pháp áp dụng riêng cho nhà nước nhằm bảo đảm quyền tự do cá nhân không bị vi phạm.

Tại Hoa Kỳ luật pháp do Quốc Hội  ban hành và Hành Pháp thực thi. Nhưng người dân vẫn có quyền kiện lên Tối Cao Pháp Viện để huỷ một đạo luật nếu quyền tự do của mình bị vi phạm. Ngược lại Quốc Hội và nhà nước có thể sửa đổi Hiến Pháp nhưng tiến trình thực hiện bị quy định vô cùng ngặc nghèo để không bị lạm dụng.

Tự do của con người không chỉ giới hạn ở ăn ngủ đi đứng mà quan trọng không kém là về tinh thần và tư tưởng. Xã hội phải tạo ra môi trường để con người tiến bộ và thăng hoa. Dưới chế độ độc tài đa số hay thiểu số cá nhân bị tha hoá vì không dám thể hiện niềm tin riêng của mình, lao động bị bóc lột nên không mưu tìm ra hạnh phúc. Chỉ trong khuôn khổ dân chủ tự do con người mới có suy tư độc lập và được bảo đảm các thành quả của cần lao hay sáng tạo.

Trên cách nhìn đó thì một bản Hiến Pháp chân chính hoàn toàn trái ngược với quan điểm về “mệnh trời” của quân chủ hay giáo quyền, hoặc tính chất độc tôn của bất cứ một hình thức nhà nước nào khác. Hiến Pháp nhằm giới hạn quyền hạn của nhà nước chớ không thể trao cho giai cấp cầm quyền uy lực tuyệt đối. Không lý nào có một khế ước nhường vình viễn quyền cai trị cho riêng một dòng họ hay tập thể nào cả. Một bản văn như vậy không thể nào phản ảnh sự thoả thuận giữa dân chúng và nhà nước, mà chỉ có thể do một tập đoàn áp đặt ý chí riêng lên mọi người.

Một vấn đề không có câu trả lời dứt khoát là làn ranh giữa quyền tự do cá nhân và sự thăng tiến của xã hộị. Con người có tự do để thăng hoa hay sa đoạ, để chọn lựa giữa tốt và xấu. Luật pháp trừng trị những hành động vi phạm đến an ninh của người khác, nhưng những suy nghĩ hư hỏng ảnh hưởng đến đạo lý và sinh hoạt của xã hội lại không thể bị ngăn cấm vì khoảng cách giữa tự do tư tưởng và kiểm duyệt khó phân định rỏ ràng. Hơn nửa lịch sử đã cho thấy chính những tư tưởng khuynh đảo đã mang đến các bước đột phá cho văn minh nhân loại.

Cho nên mới gọi là khoa học nhân văn. Mỗi thế hệ có một số tiến bộ nhưng rồi nhân loại vẫn phải đối diện với nhiều vấn đề muôn đời của xã hội.