Showing posts with label Kinh Tế Việt Nam. Show all posts
Showing posts with label Kinh Tế Việt Nam. Show all posts

Friday, August 17, 2018

Vay vốn Trung Quốc khi vỡ nợ có nhờ IMF giúp được không?




Ngoại trưởng Hoa Kỳ Pompeo cảnh cáo rằng IMF sẽ không giúp trả nợ vay từ Trung Quốc [1]. Đây là vấn đề phải đặt ra khi viễn tượng của nhiều nước lệ thuộc vào nguồn tiền từ Trung Quốc nhưng đã hay sắp vỡ nợ rất gần:

1.       Lạm phát tại Venezuala có thể đến 1.000.000% trong năm 2018 [1a]. Nước này thiếu Trung Quốc 19 tỷ USD nợ hết hạn vào 04/2018 [2] chưa rỏ dàn xếp ra sao, nhưng khi nhà độc tài Madurao còn hô hào chống Tây Phương thì triễn vọng nhờ IMF giúp là con số không.

2.       Tổng số nợ của Pakistan lên đến 91 tỷ USD trong đó 60 tỷ vay vốn Trung Quốc vào đầu tư hậu cần, nhưng cũng lại sắp vỡ nợ [3].  Nước này nhờ IMF cứu 12 lần từ thập nên 1980, lần cuối là 6.6 tỷ USD năm 2016. Ngoại giao giữa Hoa Kỳ và Pakistan đang xuống dốc vì Mỹ cáo buộc Pakistan nhận tiền mà không hết lòng trong chống khủng bố. Tân Tổng Thống Imram Khan lại ca tụng mô hình Trung Quốc nên triễn vọng được IMF giúp để trả nợ (2/3 trong đó nợ từ Bắc Kinh) rất thấp.

ĐIỂM ĐÁNG GHI NHẬN trong số các nước Á Châu nhiều nợ nhất thì Việt Nam đứng hàng thứ tư ngay sau Pakistan [3]

3.       Shri Lanka là nước Á Châu nhiều nợ nhất [3] nên đành nhượng tô cảng chiến lược Hambatota cho Trung Quốc kiểm soát trong vòng 99 năm.

4.       Tổng Thống Thổ Nhĩ Kỳ Erdogan sanh sự với cả Đức lẫn Mỹ nhưng lại nâng tầm quan hệ ngoại giao với Trung Quốc lên hàng Đối Tác Chiến Lược [4] cho nên khó lòng nhờ được IMF giúp khi kinh tế đang khủng hoảng trầm trọng [5]. Erdogan chỉ có cách trong chờ vào Trung Quốc nếu không chịu nhượng bộ Tây Phương.

5.       Iran bị Hoa Kỳ phong tỏa về kinh tế. Nguồn thu nhập chính của Iran là bán dầu sang Hoa Lục, cho nên dù Tehran đe dọa phong tỏa đường chuyên chở dầu qua ngã Địa Trung Hải nhưng sẽ không dám làm vì như vậy là tự cắt mạch máu của chính mình. Iran chỉ trông cậy vào buôn bán và đầu tư (nhỏ giọt) từ Trung Quốc để cầm cự.


6.       Tổng Thống Phi Luật Tân Duterte “chê” 61 triệu Euro viện trợ của Âu Châu vì những yêu cầu cải thiện nhân quyền [6]. Tổng Thống Hun Sen của Kampuchea thách Hoa Kỳ cắt bỏ mọi viện trợ vì những đòi hỏi cải thiện nền dân chủ [7] Hai ông Tổng Thống này ve vãn nhận tiền đầu tư và viện trợ của Trung Quốc, nền kinh tế tuy đang phát triển nhưng sau này gặp khủng hoảng đừng hòng nhờ cậy vào Tây Phương.

Tuy Trung Quốc là thành viên của cả IMF và World Bank nhưng hai cơ quan quốc tế này do lá phiếu của Hoa Kỳ và Âu Châu quyết định. Bà Tổng Giám Đốc IMF Christine Lagarde đã chính thức cảnh báo về tính thiếu minh bạch và độc hại khi vay vốn từ Trung Quốc [8].

IMF hoặc cho nước khủng hoảng mượn tiền hay đứng ra làm trung gian điều đình với các chủ cho vay cắt hay gia hạn nợ. Khó lòng các ngân hàng Trung Quốc chấp nhận cho IMF làm trung gian.

Hơn thế, IMF nếu giúp các nước trả nợ cho Trung Quốc chẳng khác gì IMF tài trợ cho dự án Một Vành Đai Một Con Đường của Bắc Kinh! Nhưng không được Tây Phương giúp đỡ các nước thiếu nợ chỉ còn cách nhượng địa hay bán tài nguyên với giá rẻ mạt cho Bắc Kinh.

Ngược lạiTrung Quốc có thể bắt nạt các nước nhỏ như Shri Lanka, còn nước lớn và có vũ khí nguyên tử như Pakistan thì không thể! Hơn nửa, túi tiền của Bắc Kinh có giới hạn nhất là khi họ đang phải gánh một núi nợ khổng lồ trong nước và chuẩn bị cho Chiến Tranh Thương Mại Mỹ-Trung. Thế giới lo các nước bị Trung Quốc siết nợ, ngược lại Bắc Kinh đang sợ mất trắng số nợ cho vay khi con nợ không nằm trong khu vực tiếp cận với Trung Quốc.

Lần này khi kinh tế Trung Quốc suy sụp các bạn hàng lớn của Trung Quốc như Brazil, Pakistan, Venezuala, Việt Nam, v.v… sẽ bị vạ lây. Nếu không mượn được tiền Tây Phương trả nợ cho Trung Quốc thì tương lai sẽ ra sao?

Năm 2008 khi kinh tế thế giới khủng hoảng Bắc Kinh đã tung ra gói kích cầu khổng lồ. Trung Quốc nhờ đó đã làm đầu tàu kéo theo nhiều nước đang mở mang trong giai đoạn nguy kịch, nhưng bù lại gói kích cầu này dẫn đến một núi nợ xấu mà Bắc Kinh chưa giải quyết được. Cho nên nếu kinh tế thế giới lại rơi vào khủng hoảng Trung Quốc không thể nào tung ra một gói kích cầu như trước đây. Ngay cả Ngân Hàng Trung Ương Hoa Kỳ và Âu Châu cũng đã xài hết đạn (out of ammunition) vào năm 2008-2012 nên khó lòng cứu viện ồ ạt như trước đây.

Tổng số nợ Trung Quốc của Việt Nam là bao nhiêu? Nếu kinh tế suy thoái – việc này sẽ có ngày xảy ra - ai sẽ giúp Việt Nam trả nợ cho Bắc Kinh? Dù Việt Nam khôn khéo giữ hòa thuận với Âu-Mỹ nhưng Tây Phương sẽ giúp trả nợ của họ cho vay chớ không dại gì giúp trả nợ cho Trung Quốc (mà không đưa ra điều kiện ngặt nghèo khi Việt Nam chiếm vị trí chiến lược quan trọng ở Biển Đông).

--------

[1] U.S.' Pompeo warns against IMF bailout for Pakistan that aids China - Reuters 07/30/2018
[1a] Venezuela Inflation Could Reach One Million Percent by Year’s End – NY Times 07/23/2108
[2] Venezuela faces heavy bill as grace period lapses on China loans - sources. Business News 04/2018

[3] IMF Bailout Looms For Pakistan as Debt Surge Raises Alarm – Bloomberg 05/30/2018

[4] Turkey-China Relations: From “Strategic Cooperation” to “Strategic Partnership”? USAK Center for Asia-Pacific Studies - Ankara | Mar 20, 2018

[5] Plunge in Lira, Turkey’s Currency, Fuels Fears of Financial Contagion. NY Times 08/13/2018

[6] PH rejects €6.1 million in EU aid. CNN 01/24/2018

[7] Defiant Hun Sen tells U.S. to cut all aid to Cambodia | Reuters. 11/18/2017


[8] IMF's Lagarde warns China on Belt and Road debt | Financial Times. 04/11/2018



Saturday, April 21, 2018

Nhận xét về Tập Cận Bình


Tập Cận Bình thay đổi Hiến pháp không giới hạn nhiệm kỳ Chủ tịch nước như trước đây, nhiều người cho rằng vì ông tham quyền cố vị. Có lẻ đúng, nhưng  người viết nghĩ bên cạnh đó là cao vọng của ông để đủ thời gian để trở thành một trong những nhà lãnh đạo lớn nhất của Trung Hoa: Mao Trạch Đông thống nhất Hoa Lục; Đặng Tiểu Bình canh tân Trung Quốc; Tập Cận Bình đưa Trung Hoa trở lại ngôi vị trung tâm hàng đầu trên thế giới.

Viết như vậy không phải nhằm ca tụng họ Tập mà để nhìn lại lịch sử dân tộc: mỗi lần Trung Hoa có một vị hoàng đế hùng tâm thao lược thì Việt Nam bị áp lực nặng nề nhất là khi trên dưới bất hoà, lòng dân ly tán.

Tập Cận Bình năm nay 64 tuổi (so với Trump 71 và Putin 65 tuổi), tức là họ Tập đủ năng lực lãnh đạo Trung Quốc thêm 15 năm nữa. Nếu khi đó GDP của Tàu qua mặt Mỹ, Hoa Lục khống chế biển Đông, thống nhất Đài Loan và đại kế hoạch Con đường Tơ Lụa thứ nhì diễn tiến tốt đẹp thì sử sách Trung Quốc chắc hẳn sẽ khắc ghi công trạng hàng đầu cho họ Tập.

Trái với Trump nóng nảy và Putin chỉ muốn thỏa mãn tự ái dân tộc của nước Nga nhưng lại khiến quốc gia bị cô lập và rơi dần vào quỹ đạo của Trung Quốc, Tập Cận Bình trầm tĩnh và tự tin nơi tương lai sẽ thuộc về Hán tộc nên dám chọn những bước đi nhanh và táo bạo:

1. Tập trung quyền lực và đặt tính chính danh của nhà nước trên nền tảng sử dụng người tài để lèo lái đất nước (meritocracy – nhưng có tài và tham nhũng) thay vì mô hình dân chủ (democracy) của Tây phương.

2. Dù núi nợ khổng lồ nhưng không có dấu hiệu Tập Cận Bình sẽ chậm lại đà phát triển kinh tế. Trái lại tại Trung Quốc lập luận rằng nhờ thặng dư mậu dịch và dân Tàu tiết kiệm rất cao (để dành 40% thu nhập so với Mỹ là 10%) nên Hoa Lục có thể mượn thêm 30% vào đầu tư với điều kiện là không dung dưỡng nợ xấu. Tình trạng nợ nần ở Trung Quốc từ mức độ nguy hiểm vào năm 2016 nay cải thiện thành đáng quan ngại. Nếu quả thật Hoa Lục có thể gánh thêm nợ để thúc đẩy tăng trưởng mà không khiến kinh tế bị sập thì rất có thể sẽ qua mặt Hoa Kỳ trong những năm 2022-25.

3. Đạt chỉ tiêu “Made in China 2025” tức là Hoa Lục sẽ phát triển ngang hàng hay qua mặt Âu-Mỹ-Nhật trong mọi ngành công nghệ mũi nhọn bao gồm viễn thông thế hệ 5G, trí thông minh nhân tạo, siêu máy tính và năng lượng tái tạo, đồng thời tiếp tục làm công xưởng khổng lồ cho thế giới.

4. Tình trạng lão hóa tại Trung Quốc đã bắt đầu nhưng chưa đến nỗi trầm trọng trong vòng 15-20 năm nửa. Nếu kế hoạch hiện đại hóa hoàn thành thì năng suất lao động sẽ tăng đủ để nuôi số người già trong tương lai.

5. Nhiều chuyên viên quân sự Mỹ tiên liệu rằng đến khoảng năm 2021 hải quân Trung Quốc sẽ đủ mạnh để đẩy lùi hạm đội của Hoa Kỳ ra ngoài chuỗi đảo thứ nhất nhằm khống chế biển Đông và phong tỏa Đài Loan trong trường hợp căng thẳng gia tăng.

Năm điểm nói trên mất 7 năm tức là không còn xa nữa và chiếm ½ nhiệm kỳ nếu họ Tập tiếp tục lãnh đạo cho đến khi 80 tuổi. Phần còn lại sẽ cũng cố và phát triển Con đường Tơ Lụa nối liền hai lục địa Á-Âu trong đó Bắc Kinh sẽ nắm vai trò trung tâm như tên gọi Trung Quốc trước đây.

Nhưng quan trọng hơn mọi chiến lược quốc tế khi Tập Cận Bình muốn chứng minh rằng nền dân chủ tự do và kinh tế thị trường do Tây phương quảng bá từ 300 trăm năm nay không phải là mô hình duy nhất cho phát triển; trái lại, tập trung lãnh đạo vẫn có thể đi đôi với tự do kinh doanh nếu biết sử dụng nhân tài (meritocracy). Cho đến nay đại đa số các nhà nghiên cứu vẫn hoài nghi về mô hình phát triển của Trung Quốc thì tham vọng của Tập Cận Bình là chứng minh bằng thành quả thực tế chớ không tranh cải lý thuyết. Cho dù lợi tức đầu người dân Trung Quốc không qua mặt Hoa Kỳ và Âu Châu, nhưng GDP lớn hơn cũng đủ làm khuynh đảo thế giới.

Việt Nam đang chuẩn bị gì cho tương lai đó khi thế nước yếu?



Tuesday, January 23, 2018

Áp dụng mô hình Trung Quốc vào các nước đang mở mang

 “Tại Đại hội toàn quốc lần thứ 19 của đảng Cộng sản hồi tháng 10 vừa qua, chủ tịch Tập Cận Bình đã trình bày hệ thống cai trị của Trung Quốc như một hình mẫu để các quốc gia khác mô phỏng theo. Các nhà lãnh đạo muốn “thúc đẩy sự phát triển trong khi vẫn duy trì nền độc lập của mình” nên nhìn vào Trung Quốc như “một lựa chọn mới”, ông Tập nói” [1].

Câu hỏi đặt ra là Trung Quốc phát huy mô hình đó như thế nào ra quốc tế?
Tuy chưa có tài liệu phân tích từng bước chiến lược của Bắc Kinh trong lãnh vực này, nhưng diễn biến tại nhiều nước đang mở mang ở Đông Nam Á, Nam Á, Phi Châu và tại những nước công nghệ ở Âu và Úc Châu cho thấy một kế sách lâu dài đang được định hình.

Nhưng trước hết, thế nào là mô hình Trung Quốc?

“Mô hình Trung Quốc có một số đặc điểm chủ yếu, bao gồm chế độ cai trị chuyên chế dựa trên ý niệm về sự ổn định; chính sách công nghiệp và tài chính do nhà nước dẫn dắt; đầu tư lớn vào cơ sở hạ tầng; công nghiệp hóa nông thôn hậu thuẫn bởi nông nghiệp quy mô nhỏ; và sự mở cửa cho thương mại và công nghệ nước ngoài” [2].

Bắc Kinh không áp dụng toàn bộ nhưng chọn lọc vài chủ điểm trong mô hình trên mang ra áp dụng một cách thuần nhất vào các nước đang phát triển như sau:
1.      Chế độ cai trị dựa trên ý niệm về sự ổn định (tức là cộng sản, độc tài hay dân chủ đều o.k. miễn là có nền chính trị ổn định để buôn bán với Trung Quốc).
2.      Chính sách công nghiệp và tài chính do nhà nước dẫn dắt (tức là kinh tế do nhà nước dẫn dắt càng nhiều thì càng thuận lợi cho Trung Quốc thao túng).
3.      Đầu tư lớn vào cơ sở hạ tầng (tức là tạo thuận lợi để Trung Quốc đầu tư vào hạ tầng của mỗi quốc gia trong kế hoạch Nhất Đới Nhất Lộ).
4.      Mở cửa cho thương mại và công nghệ nước ngoài (tức là tạo thuận lợi cho Trung Quốc khai thác tài nguyên và bán hàng tiêu dùng).

Chủ trương của Trung Quốc là không can thiệp chính trị và quân sự nhằm vận động quảng bá cho một ý thức hệ. Nếu diễn giải theo ngôn từ của Tập Cận Bình thì lập trường này trái ngược với Tây Phương vốn quảng bá sự phát triển của nền dân chủ tư do (liberal democracy) qua các tổ chức quốc tế như IMF, World Bank, NATO, và các tổ chức phi chính phủ như Human Rights Watch, Ký giả không biên giới, v.v. khiến nhiều quốc gia mất đi sự độc lập của mình trong đó có các nước Đông Âu, Thổ Nhĩ Kỳ, Iran, Phi Luật Tân (Phillipines), Mã Lai (Malaysia), Thái Lan, Cam-Bốt, Bangladesh, Pakistan… Chỉ khi nào không bị xáo trộn đột ngột về chính trị thì các quốc gia mới có ổn định xã hội để phát triển kinh tế.

Chủ trương nói trên không chỉ nhằm hấp dẫn các nhà độc tài vốn không muốn bị áp lực phải thay đổi, mà còn dựa trên kinh nghiệm quá khứ của chính Trung Quốc qua cuộc Cách Mạng Văn Hóa đẫm máu, và bài học hiện tại từ các cuộc Cách Mạng Hoa Nhài dẫn đến thảm họa nhân đạo ở Syria, Lybia và kinh tế trì trệ ở Ai Cập, Tunesia… Nói một cách khác, Bắc Kinh ngày nay không chống đối nền dân chủ nhưng phản đối việc can thiệp thực hiện nền dân chủ như một mô hình đồng nhất (one size fits all) lên mọi quốc gia mà không quan tâm đến các đặc thù văn hóa, lịch sử và xã hội.

Tiêu biểu cho lập trường này là quan hệ giữa Trung Quốc với Miến Điện: tuy trước đây Bắc Kinh hậu thuẩn cho chế độ quân phiệt, nhưng khi cánh dân chủ thắng thế thì Hoa Lục sẵn sàng làm việc với bà Aung San Suu Kyi để tiếp tục trao đổi mậu dịch. Khi bà Aung San Suu Kyi bị Tây Phương lên án mạnh mẽ vì không bảo vệ cho thiểu số đạo Hồi người Rohinya, Bắc Kinh im lặng thúc đẩy cho một giải pháp giữa Miến và Bangladesh, qua đó nâng cao vai trò của Trung Quốc vào lúc Âu-Mỹ cô lập Naypyidaw.

Nhìn ra tương lai, hiện Trung Quốc đang ủng hộ nhà cầm quyền độc tài tại Venezuala, nhưng nếu Tổng Thống Maduro bị lật đổ thì Bắc Kinh sẵn sàng làm đối tác thương mại lớn nhất để tiếp tục đầu tư và mua dầu từ chính quyền mới.

Tuy nhiên Bắc Kinh sẽ từ bỏ chính sách không can thiệp nếu quyền lợi chiến lược bị xâm phạm, chẳng hạn như Trung Quốc không thể nào chấp nhận cho Bắc Hàn hay Việt Nam thay đổi thể chế. Hoa Lục cũng sẵn sàng dùng quyền lực nhọn (sharp power) theo cách tung tiền chi phối nền chính trị nội bộ của Úc và Tân Tây Lan (New Zealand) nhằm thay đổi lập trường của hai nước này về Biển Đông theo hướng có lợi cho Trung Quốc; hay dùng áp lực kinh tế ra quốc tế nhằm cô lập Đài Loan và Đức Đạt Lai Lạt Ma; hoặc dùng mậu dịch để trừng phạt Na-Uy, Nhật, Nam Hàn và Phi Luật Tân khi có những va chạm về địa chính trị hay nhân quyền.

Một điểm cần quan tâm là sau Chiến Tranh Lạnh nhiều nước tuy độc tài nhưng vẫn phải khoát tấm bình phong dân chủ vì cần giao dịch với Âu-Mỹ. Nhưng chỉ trong hai năm gần đây, Tổng thống Duterte của Phi và Hunsen của Cam Bốt dựa vào chiếc dù thương mại và chi viện của Trung Quốc để không còn dấu giếm mà ra mặt đối kháng với Tây Phương nhằm thẳng tay đàn áp trong nước. Diễn biến tương tự nhưng ở góc độ khác biệt khi Edorgan của Thổ Nhĩ Kỳ, Viktor Orban của Hung Gia Lợi (Hungary) và Duda của Ba Lan chống đối mô hình dân chủ tự do (liberal democracy) của Tây Âu thay vào đó bằng mô hình dân chủ phi tự do (illiberal democracy) mang màu sắc Hồi giáo hay dân tộc chủ nghĩa.

Nói chung là sức mạnh kinh tế của các nước dân chủ không tăng trong khi Trung Quốc nhảy vọt. Lượng hàng hoá sản xuất từ Mỹ chiếm 50% toàn cầu năm 1945, đến nay còn 16% và dự trù chỉ 11% trong khi Hoa Lục sẽ là 30% vào 2050 [3]. Trái với nhận định của những chuyên gia Tây Phương, mô hình phát triển của Trung Quốc (tóm tắt bằng một chữ “sale”) có mãnh lực thu hút tưởng chừng không thể cưỡng lại để các nước đang phát triển có “một lựa chọn mới” nhằm ổn định chính trị và phát triển thành những nền kinh tế chư hầu (satellite economies) trong kế hoạch Nhất Đới Nhất Lộ của Bắc Kinh.

***

[1] [2] Trích nguyên văn từ: http://www.viet-studies.net/kinhte/ChinaSolitaryModel_Bardhan_trans.html – Người dịch: Huỳnh Hoa.

[3] Destined for war: Can America and China Escape Thucydides’s trap? – Tác giả: Graham Allison.

Saturday, December 23, 2017

Chỉ là kinh tế, đồ khờ! (It’s the economy, stupid)

Người Việt sống tại Hoa Kỳ thường nói nghèo ở Mỹ cũng được nhà nước lo đầy đủ hơn cả chục triệu người Việt Nam. Tuy đúng nhưng chỉ có điều dân Mỹ chẳng ai so đo với Việt Nam (chỉ trừ Mỹ gốc Việt) trong khi người Việt thì so sánh với cả trong nước lẫn hải ngoại!

Câu hỏi đặt ra tại sao Hoa Kỳ năm 2016 kinh tế đã hồi phục từ sau khủng hoảng 2007-08, thị trường chứng khoán và địa ốc tăng trưởng mạnh, chỉ số thất nghiệp rơi xuống con số rất thấp – dưới 5%, nhưng dân chúng phẫn nộ, xã hội bị phân hóa trầm trọng với kết cục bầu lên Tổng thống Trump? Trong khi đó tại Việt Nam lợi tức đầu người chỉ khoảng 1/20 bên Mỹ, các vụ lớn như Formosa, Tiên Lãng, BOT Cai Lậy… khiến nhiều người vô cùng bức xúc, nhưng không dẫn đến một phong trào phản kháng nóng bỏng như ở Mỹ?

Lý do chính vì không có bầu cử tự do và vì sự theo dõi kềm kẹp của công an Việt Nam. Nhưng bên cạnh đó còn thêm một yếu tố quan trọng không kém, chính là nguyên nhân kinh tế, đồ khờ! (Câu này dịch từ châm ngôn bất hủ It’s the economy, stupid vốn đã giúp ứng cử viên Bill Clinton đắc cử năm 1992 vào chức vụ Tổng thống).

Cụ thể, thống kê của Pew Research Center cho thấy Việt Nam đứng đầu bảng với 88% dân chúng hài lòng về cuộc sống của họ hiện giờ khá hơn 50 năm trước, trong lúc tại Hoa Kỳ chỉ có 37% mang tâm trạng lạc quan về nước Mỹ [1]. Hơn thế nhiều nước dưới ngưỡng 40% gồm Brazil, Pháp, Hy Lạp, Ý, Argentina đều trải qua biến động chính trị trong vài năm vừa qua.

Việt Nam ngày nay không còn bị dội bom, pháo kích, đắp mô, giựt mìn sập cầu… Nhiều người khắc khe phê phán tăng trưởng kinh tế Việt Nam chỉ mang lại tầng lớp tư bản đỏ và tăng khoảng cách chênh lệch giàu nghèo giữa dân chúng thành thị với công nhân và nông dân. Tuy nhiên không thể phủ nhận là điện nước, đường tráng nhựa đã vào đến nông thôn, còn công nhân nào cũng có điện thoại cầm tay (nhiều khi còn là iPhone đời mới).

Quan trọng hơn cả là tầng lớp trung lưu thành thị: giá nhà tăng vọt như tiền trên trời rớt xuống giờ đây ngang bằng với Cali, Paris, Hồng Kông, Sydney, v.v. Con cái đi du học nước ngoài ngày thêm đông. Người có tiền đi du lịch sang Âu-Mỹ, còn ít tiền thì được thân nhân bảo lãnh đi du lịch ra nước ngoài.

Xã hội Việt Nam (và các nước Đông Nam Á nói chung) vô cùng năng động: dân chúng nhanh chóng du nhập AirBnB, Uber và kiếm thêm tiền từ giao đồ ăn đến tận nhà cho đến hãng hàng không tư nhân, Bitcoin. Cho nên dù tham nhũng và hành chánh rườm rà nhưng vẫn là thị trường thu hút đầu tư nước ngoài.

Người Việt sống tại Âu-Mỹ trong 40 năm qua không hề trải nghiệm kinh tế tăng trưởng 6-7% nên khó hình dung mức sôi động trong xã hội, nhưng có thể tưởng tượng nếu bạn đang sống ở Thung lũng Điện tử Silicon Valley: mỗi lần nhảy việc là lương tăng vọt; hên thì gặp trúng cơ hội start-up thành triệu phú cả chục lần (multi-millionaire) chỉ vài năm; nhà cửa mỗi năm tăng 20-30% nên tài sản lớn là chuyện thường tình. Tuy khổ cực vất vả nhưng người tài vẫn dồn về Silicon Valley, chỉ còn lại những ai không bắt kịp thời cuộc đâm ra bất mãn chua chát.

Tại Mỹ, hàng chục triệu nhân viên các ngành luyện thép, hầm than, dệt may, sản xuất xe hơi, v.v. có thể bị thất nghiệp 10, 20 năm nhưng không hy vọng tìm ra việc làm mới tương đương. Ngay cả những ngành hái ra tiền như kỹ sư cũng lo sợ sau 50 tuổi sẽ bị đào thải. Cho nên lần đầu tiên từ ngày lập quốc Hoa Kỳ nhiều người dân Mỹ không tin rằng thế hệ con cháu họ sẽ khấm khá hơn ngày hôm nay.

Dân chúng thường không quên quá khứ nhưng quan tâm đến hiện tại nhiều hơn. Hoa Kỳ thoát khỏi trận Đại Suy Thoái 2007-08 dưới thời Obama, nhưng cử tri nổi giận thì bỏ phiếu cho Trump (thay vì bà Clinton). Dân Việt còn nhớ nguồn gốc của chiến tranh, nền kinh tế tập trung và chế độ bao cấp nhưng hiện đời sống đang khá lên thì không ai muốn đòi thay đổi ồ ạt vì cứ xem gương của Ai Cập hay Tunisia thì biết .

Trở về Á Châu, nhiều chính quyền độc tài ở Nam Hàn, Indonesia, Argentina bị sụp đổ từ sau trận khủng hoảng kinh tế 1998. Liệu tham nhũng và nợ xấu tại Việt Nam có sẽ dẫn đến tình trạng suy thoái khi thế giới đi vào chu kỳ khủng hoảng kế tiếp hay không – It’s the economy, stupid.

Đ.H.Q.

[1] http://www.pewglobal.org/2017/12/05/worldwide-people-divided-on-whether-life-today-is-better-than-in-the-past/

Thursday, December 7, 2017

Ảnh hưởng dây chuyền khi ngân hàng phá sản

2018 đánh dấu 10 năm cuộc Đại Suy Thoái tại Mỹ nên đây là dịp để tìm hiểu tại sao khủng hoảng ngân hàng lại nhanh chóng ảnh hưởng dây chuyền và tràn lan ra toàn bộ nền kinh tế. Việc này càng hợp thời vào lúc nhà nước Việt Nam vừa thông qua đạo luật cho phép tổ chức tín dụng kiểm soát đặc biệt được phá sản.

Thực tế là tâm trạng hoang mang khiến khủng hoảng bắt đầu khi ngân hàng lung lay chớ không đợi đến lúc khai phá sản. Nghịch lý nơi chổ trước đây không có luật phá sản nhưng ai cũng hiểu ngầm nhà nước sẽ gánh toàn bộ nợ xấu thì người gởi tiền ký thác tuy lo mà không hốt hoảng, nhưng đến khi nhà nước cho biết sẽ không còn làm chủ cái nửa – dù vì hết khả năng bao thầu hay do muốn trao quyết định cho thị trường tự do, khi đó tâm lý quần chúng mới dao động và tác động lên thị trường. Người Mỹ gọi đây là behavioural economics, nghe tuy có vẻ chuyên môn nhưng hợp tình hợp lý.

Khi một ngân hàng bị lung lay thì người ký thác lo rút tiền chớ dại gì đợi đến khi phá sản thì tiền gởi nhiều bị mất hết ngoại trừ con số được nhà nước bảo đảm. Nhưng ngay khi không bị phá sản quá trình tái cơ cấu vẫn đầy bất trắc khiến việc rút tiền có thể trở nên khó khăn, nên ai cũng nghĩ khôn thì rút tiền trước cho chắc ăn.

Ngân hàng đang yếu kém bị người ký thác đòi rút tiền ào ạt nên phải bán nợ và tài sản để thu vốn. Điều trớ trêu nhất là khi đó nợ xấu bán không ai dám mua hoặc chỉ chịu mua với giá rẻ mạt, nên ngân hàng phải bán NỢ TỐT. Điều này khiến giá trị cổ phiếu của các công ty đang vững mạnh bị sút giảm nhanh chóng. Ảnh hưởng lan đến chính các ngân hàng mạnh cũng phải ngừng cho vay và bán nợ tốt để thu vốn phòng bị. Doanh nghiệp không vay mượn được nên không thể khuyếch trương, nhân viên sợ mất việc nên giảm ăn xài. Tâm lý hốt hoảng lan rộng đến mọi giới đầu tư và người tiêu thụ khiến khủng hoảng ngân hàng lan tràn nhanh chóng ra toàn bộ nền kinh tế. Người Mỹ gọi là drive-by-shooting, tức là đang đi ngoài đường gặp hai người đánh nhau mà mình ăn đạn!

Tất nhiên nhà nước cũng dự phòng trường hợp này nên sẽ cố gắng dàn xếp cho ngân hàng mạnh hay ngân hàng nước ngoài mua lại ngân hàng yếu để tránh tình trạng phá sản. Thông thường là thành công nhưng năm 2008 Bộ Tài Chính Mỹ đã không thuyết phục được các ngân hàng mạnh cứu vớt Lehman Brother khiến ngân hàng này bị phá sản mở màn cho cuộc Đại Suy Thoái. Một trong các nguyên do là chính những ngân hàng mạnh chỉ có tiếng bề ngoài chớ bên trong cũng ôm đầy nợ xấu, bên nào cũng đầy rận trong chăn nên chẳng ai giúp ai.


Trên đây chỉ là tóm lược của một quá trình vô cùng phức tạp. Những gì xảy ra tại Hoa Kỳ sẽ không tái diễn y chang ở nước khác, nhưng bài học vẫn có giá trị vì có một yếu tố không thay đổi dù ở mọi thời, mọi nơi tức là tâm lý quần chúng.

Sunday, May 21, 2017

Ba tiêu chuẩn trong phát triển kinh tế

Một nền kinh tế muốn vững mạnh cần phải hội đủ 3 điều kiện: tăng trưởng (growth), tăng trưởng bền vững (sustainable development) và tăng trưởng đồng bộ (inclusive development). Ba yếu tố này không thể tách rời nhưng xin được trình bày dưới đây như ba khía cạnh riêng biệt để dễ dàng phân biệt.

Tăng trưởng được nhắc đến nhiều nhất vì nhân loại trong mọi hoàn cảnh đều muốn cuộc sống ngày mai tốt đẹp hơn ngày hôm nay. Tại Trung Quốc chỉ tiêu tăng trưởng trong năm 2017 là 6.5%, Việt Nam là 6.7%, còn ở Mỹ trong mùa bầu cử Trump đã hứa hẹn 4%.

Nhưng nếu chỉ nhắm vào các mục tiêu tăng trưởng ngắn hạn chưa đủ vì cũng giống như một lực sĩ dùng thuốc kích thích nhằm thắng một cuộc đua mà để lại nhiều hậu hoạn lâu dài cho sức khỏe. Cho nên tương lai và sự ổn định của một quốc gia còn tùy thuộc vào hai yếu tố gồm tăng trưởng bền vững và tăng trưởng đồng bộ.
Khái niệm về tăng trưởng bền vững nay được chấp nhận rộng rãi theo ý nghĩa không hủy hoại môi trường cho các mục tiêu kinh tế ngắn hạn. Hiểm họa này thấy rỏ tại các quốc gia chạy đua theo tăng trưởng như Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam… nhưng những nước công nghiệp Tây Phương cũng phải gánh vác trách nhiệm về biến đổi khí hậu toàn cầu do hiệu ứng lồng kính. Dù vậy bảo vệ môi trường nói dễ hơn làm khi trên bình diện lớn đụng chạm đến quyền lợi của các đại tập đoàn tư bản, còn đối với giới tiểu thương, nông dân hay thường dân nói chung lo chật vật với cuộc sống trước mắt hơn là quý trọng thiên nhiên. Do đó thực hiện tăng trưởng bền vững tùy thuộc vào chính sách minh bạch cùng sự cộng tác giữa nhà nước, doanh nghiệp, các nhà đầu tư và nhất là ý thức công dân.

Tăng trưởng đồng bộ nói nôm na là khi kinh tế phát triển không thể có một thành phần hưởng lợi lớn trong khi số còn lại chỉ được chia chác chút đỉnh. Lợi tức không đòi hỏi phải san bằng nhưng nếu khoảng cách chênh lệch quá xa sẽ mang lại bất mãn và bất ổn nhất là khi mạng internet giúp loan truyền các thông tin trái chiều vô cùng nhanh chóng. Chênh lệch giàu nghèo là đề tài nổi cộm trong các thế kỷ 19-20 do bóc lột lao động và chính sách thuộc địa, sang đến thế kỷ 21 lại thêm hai yếu tố khác lan rộng từ những quốc gia đang mở mang như Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam… cho đến các nước phát triển Tây Phương: tăng trưởng tập trung tại các đô thị và những vùng ven biển, và trào lưu toàn cầu hóa mang nhiều lợi nhuận cho thành phần học vấn nhưng lại bỏ rơi giới lao động thợ thuyền.

Tình trạng tăng trưởng mất quân bình giúp 300 triệu dân Trung Quốc ở các vùng duyên hải có mức sống gần bằng Âu-Mỹ trong khi 1 tỷ người sống trong nội địa chỉ có lợi tức 1-2 đô la mỗi ngày. Tại Việt Nam dân chúng các thành phố Sài Gòn, Hà Nội, Đà Nẵng, Nha Trang v.v… ngày thêm sung túc còn các thôn xóm miền quê vẫn thiếu thốn miếng ăn. Bên Anh Quốc những người dân sống xa London và các trung tâm kinh tế đã bỏ phiếu cho Brexit. Tại Mỹ giới thợ thuyền của vòng đai han rỉ (the rust belt) dồn phiếu cho Donald Trump.
Chẳng những công ăn việc làm dễ tìm với mức lương cao tại các thành phố mà giá địa ốc ở Bắc Kinh, Thượng Hải, Sài Gòn, Hà Nội, London, New York, Los Angeles v.v… tăng vọt so với sâu trong lục địa khiến mức độ rạn nứt trong xã hội ngày thêm trầm trọng.

Lợi tức của những người có bằng đại học và biết thích ứng với thời đại toàn cầu hóa tăng nhanh trong lúc đời sống của giới lao động thợ thuyền và nông dân ngày thêm chật vật. Điều này dẫn đến một tầng lớp ưu tú (elite) không những ở Âu-Mỹ mà ngay cả tại Trung Quốc, Ấn Độ, Việt Nam… cùng với giai cấp quyền thế bay nhảy hay du học ra khắp thế giới trong khi số đông dân chúng ngày càng thêm thua sút. Sự kiện này không phải là mới nhưng cách mạng thông tin internet khiến người ta cảm nhận sự thua thiệt và thổi bùng lên làn sóng công phẫn.


Tình trạng kinh tế tăng trưởng thiếu đồng bộ mang lại những cơn chấn động về chính trị ở Hoa Kỳ và Âu Châu. Tại các nước đang mở mang người dân không có quyền phản đối bằng lá phiếu nhưng nỗi bất mãn về mức độ chênh lệch giàu nghèo trở thành mối đe dọa tiềm tàng cho các chế độ. Đây là một nan đề của thế kỷ thứ 21 mà sau Brexit và Donald Trump đang được quan tâm bàn cãi rất nhiều mà vẫn chưa tìm ra giải pháp.

Friday, February 10, 2017

Chiến tranh tiền tệ (trong đó có Việt Nam)

Chính quyền Trump tố cáo Trung Quốc, Đức và Nhật phá giá đồng bạc để hỗ trợ xuất khẩu khiến dân Mỹ mất việc. Không chỉ các nền kinh tế lớn mà nhiều nước đang phát triển cũng bị nêu tên – trong đó có Việt Nam.
Mục tiêu của Nhật khi nới rộng chính sách tiền tệ nhằm nâng lương bổng và mức tiêu thụ nội địa để thoát ra khỏi tình trạng giảm phát nan giải kéo dài trong nhiều thập niên, nhưng hậu quả khiến đồng Yen hạ giá so với đô-la. Nếu Nhật không thể siết chặt tiền tệ trong lúc này thì sẽ phải mở cửa nhập cảng khí đốt, nông phẩm, máy bay từ Mỹ – những thứ mà Nhật cần và Hoa Kỳ có thể cung cấp để giảm thặng dư mậu dịch và tạo việc làm ở Mỹ.
Đức xuất khẩu hàng thứ ba trên thế giới lại là nước hưởng lợi từ khủng hoảng Euro: số là kinh tế các nước Nam Âu suy sụp khiến đồng Euro mất giá thành ra giúp hàng Đức bán ra quốc tế giá rẻ tạo nên lợi thế so với Hoa Kỳ. Ước tính cho rằng nếu Đức còn giữ tiền riêng thì Đức Kim phải tăng 30-40% để điều chỉnh cán cân mậu dịch. Dù đồng Euro do Ngân Hàng Trung Ương Âu Châu ECB quyết định nhưng Đức là nền kinh tế lớn và nặng cân nhất trong khu vực, cho nên chính quyền Trump mới tố cáo rằng Đức đã thao túng đồng Euro trục lợi.
Trường hợp Trung Quốc phức tạp hơn, vì Bắc Kinh trong vòng hai năm nay đang nâng giá NDT (Nhân Dân Tệ) thay vì hạ giá đồng bạc, bán ra 1000 tỷ USD nhằm ngăn tình trạng chảy máu ngoại tệ khi kinh tế yếu kém nên tư bản đỏ muốn chuyển tiền ra nước ngoài. Tình hình này trái ngược với thời điểm năm 2000 khi Bắc Kinh hạ giá NDT nhằm hỗ trợ xuất cảng nên nhiều chuyên gia cho rằng Trump lỗi thời khi tấn công Hoa Lục. Nhưng ngược lại cánh theo Trump cho rằng trước đây Trung Quốc đã “mượn” (khiến hàng triệu dân Mỹ mất việc) thì nay phải “trả” nhất là khi ngân khố còn nắm giữ 3500 tỷ USD. Nói cách khác đây là lúc Trump bắt chẹt Bắc Kinh để tìm lợi thế khi thương lượng.
Sang đến các nước đang phát triển thì cánh chống TPP đưa ra lý do TPP không có điều khoản về hối suất, trong khi các nước Đông Á nằm trong TPP đều thao túng đồng bạc khiến Hoa Kỳ mất đi 2 triệu việc làm [1]. Nhật, Mã Lai, Singapore bị gọi đích danh, còn Việt Nam cũng bị nhắc đến 6 lần trong tài liệu [1] dưới đây. Lý do chính khiến Obama vận động cho TPP nhằm ngăn chận ảnh hưởng của Trung Quốc, còn lợi ích kinh tế đến cho Hoa Kỳ rất ít (0,5% GDP) so với Việt Nam hưởng lợi nhiều nhất. Sang đến Trump, chủ trương nước Mỹ trước tiên (America first) nên dù các quốc gia bạn như Đức-Nhật hay đối thủ như Trung Quốc đều bị cảnh giác thì những nước đang phát triển cũng không thể trông cậy vào thị trường Hoa Kỳ sẽ mở rộng như trước. Mỹ thâm thủng mậu dịch với Việt Nam hàng thứ 5 (sau Trung Quốc, Đức, Nhật, Mễ Tây Cơ) [2] nên Việt Nam cũng đang lọt vào tầm nhắm.
Tiền VND (Việt Nam Đồng) định giá theo USD nhưng mỗi lần NDT hạ giá thì VND theo đó xuống giá, như vậy là hưởng lợi hai đầu để vừa cạnh tranh với Trung Quốc lại bán thêm hàng rẻ sang Hoa Kỳ. Lẽ ra Việt Nam thặng dư mậu dịch với Mỹ nhảy vọt từ 500 triệu USD năm 2000 lên 32 tỷ USD năm 2016 [3] thì tiền đồng cũng phải tăng so với đô la.
Chỉ riêng trong năm 2015 khi Việt Nam thặng dư với Mỹ 31 tỷ USD lại thâm thủng với Trung Quốc 32 tỷ USD [4] tức là tiền Mỹ chạy vào Việt Nam rồi luồng sang Hoa Lục. Nhiều người cho rằng Trung Quốc sẽ dùng Việt Nam làm cánh cửa hậu thâm nhập thị trường Hoa Kỳ thông qua TPP để trốn thuế (chẳng hạn như doanh nghiệp Trung Quốc ồ ạt đầu tự vào sản xuất vãi sợi). Có tự do mậu dịch thì dân chúng Việt Nam được thêm công ăn việc làm nhưng lợi ích chính về tay doanh nghiệp Trung Quốc và các đại gia trong nước khiến tham nhũng, bất công và khoảng cách giàu nghèo ngày càng tăng vọt. Các quyền hạn dân sự và công đoàn được hứa hẹn nhưng có thể bị siết chặt trở lại như đã từng xảy ra sau khi Việt Nam gia nhập WTO. Về ngoại giao thì Việt Nam sẽ tiếp tục đu dây chớ không thể chọn nghiêng thêm về phía Hoa Kỳ vì lệ thuộc về kinh tế và chính trị vào Bắc Kinh. Cho nên theo cách tính toán lời lỗ của doanh nhân tỷ phú Donald Trump Hoa Kỳ bị thiệt hại do chẳng thu được lợi ích thực tiễn nào từ TPP, nên Tổng Thống Donald Trump mới chủ trương thay vào đó những hiệp ương thương mại song phương để chận không một nước nào có thể lợi dụng ăn ké.
Hai nhân vật chủ chốt khi thương thuyết các hiệp định thương mại gồm Giáo Sư Peter Navarro – tác giả quyển Chết Vì Trung Quốc (Death by China) nay được Donald Trump cử làm Hội Đồng Thương Mại Quốc Gia – và nhà tỷ phú Wilbur Ross - hiện đang chờ Quốc Hội phê chuẩn vào chức vụ Bộ Trưởng Thương Mại. Riêng ông Wilbur Ross đã đầu tư vào ngành may mặc tại Việt Nam từ năm 2015 [5] nên hiểu rỏ cách thức làm ăn trong nước, trước đây ông là nhà kinh doanh rất phấn khởi về triển vọng phát triển của Việt Nam nhưng nếu trở thành Bộ Trưởng Thương Mại không biết sẽ nhìn theo góc cạnh nào phù hợp cho quyền lợi của nước Mỹ và cho quan điểm của ông Trump.
Đa số vẫn cho rằng Mỹ cần hàng hóa rẻ từ các nước đang phát triển như Việt Nam. Nhưng ai sống ở Hoa Kỳ đều biết khoảng 20-30% đồ dân Mỹ mua vào là thừa thải không hề xử dụng đến, nên nước Mỹ bớt nhập cảng 20-30% cũng chẳng mất mát gì.
Tài liệu tham khảo:
[1] Trans-Pacific Partnership, currency manipulation, trade, and jobs – Economic Policy Institute, March 2016
[2] US Merchandise Trade Deficit with China hit record in 2015 – cnsnew.com, February 9, 2016
[3] US trade goods with Vietnam – census.gov
[4] Trade deficit with China rises – Viet Nam News, January 06, 2016

[5] The US billionaire who pours money into Vietnam’s garment industry – Vietnamnet, 17/07/2015

Friday, September 25, 2015

Nợ….

Nợ vốn đã đau đầu, nhưng nợ nhà nước lại càng phức tạp hơn do các con số và bị những nhà kinh tế làm cho rối ren...

 

Nhưng có thể lấy thí dụ cho dễ hiểu: một nước đang phát triễn như sinh viên mới ra trường, trong khi quốc gia công nghiệp giống như người lớn tuổi đã có sự nghiệp. Tất nhiên thanh niên trẻ cần mượn tiền gia đình hay ngân hàng để mua xe tậu nhà lập gia đình tạo nên sự nghiệp, tương tợ như nước mới phát triển phải mượn nợ đầu tư vào đường xá, điện nước, phi trường, hải cảng, giáo dục, y tế v.v… Hạ tầng tốt tạo điều kiện cho kinh tế phát triển chẳng khác các cặp vợ chồng trẻ đặt nền móng chuẩn bị cho tương lai.

 

Nhưng rồi có người khi đồng tiền ra vào lại tiêu xài bậy bạ thay vì lo cho mai sau, cũng giống như các món nợ đầu tư lảng phí theo kiểu xây dựng tượng đài, phi trường, công trình hoành tráng nhưng kém hiệu quả kinh tế. Lại có kẻ mới đi làm có đồng lương nhưng không biết quản lý tiền bạc nên bị bạn xấu bòn rút, chẳng khác gì một nước mới phát triển nhưng tài nguyên công quỹ bị tham nhũng đục khoét. Theo một số nghiên cứu thì khi đầu tư hạ tầng chiếm trên 40% GDP là lúc một quốc gia đang mở mang đánh mất dần khả năng kiểm soát khiến đầu tư trở nên lảng phí.

 

Sinh viên mới ra đời tuy ít của cải nhưng lương bổng tăng nhanh so với người trưởng thành lương tăng chậm nhưng nhà cửa tài sản tích tụ đã nhiều. GDP của Trung Quốc trong vòng 20 năm tăng trưởng 10% thường niên trong khi của Hoa Kỳ chỉ tăng 2-4%, nhưng tài sản của nước Mỹ nhiều hơn Tàu đến 9 lần. Cho nên có người lý luận cho rằng ngay cả khi GDP của Tàu qua mặt Mỹ - tức là lương Trung Quốc vượt hơn lương của Hoa Kỳ nếu tính trên quốc gia chớ không bằng lợi tức đầu người – thì Mỹ vẫn giàu hơn Tàu.

 

Nợ có thể vay mượn từ gia đình hay bên ngoài, giống như nhà nước có thể vay mượn từ trong nước hay ngoại quốc. Trong nội địa chính quyền có hai khoảng thu nhập là thuế và nợ công. Nhà nước vay mượn trong nước bằng cách trực tiếp bán công trái cho dân chúng hoặc ngân hàng, các quỹ đầu tư và bảo hiểm tức là những nơi giữ tiền do dân chúng thác gởi. Sau đó chính quyền dùng tiền để xây cầu đường hay tài trợ cho các công trình địa phương và công ty nhà nước. Con cái bòn rút cha mẹ rồi đến khi túng thiếu năng nỉ để gia hạn hay tha nợ, huống hồ gì nhà nước là cha mẹ thì quịt nợ dân chúng còn dễ hơn. Một cách để trả nợ là tăng thuế; hay ấn hành nợ mới; hoặc bắt các ngân hàng xoá nợ; hay in bạc để trả nợ, bởi vì nhà nước có quyền in đồng tiền nội địa. Nhưng trên đời có vay có trả, dù chọn lựa cách nào thì cũng phải có bên thua lổ hoặc do thuế má lên cao, hay lạm phát tăng vì tiền mất giá, hoặc ngân hàng lổ lã nên không cho doanh nghiệp và tư nhân vay mượn. Nói cách khác phù phép cách gì đi chăng nửa dân chúng và khu vực tư nhân cũng lãnh hậu quả.

 

Nhân đây cũng nên nói về lạm phát: chủ nợ và người tiết kiệm lo tiền mất giá trong khi nhà nước cùng các con nợ lại trông vào lạm phát để cho nợ bốc hơi. Nói cách khác thì lạm phát chính là một thứ thuế vô hình để móc túi người dân.

 

Nợ nước ngoài mượn bằng đô-la trả bằng đô-la cho nên nhà nước không thể in thêm tiền nội địa để trả nợ. Đến kỳ hạn thì phải rút ngoại tệ dự trữ ra trả. Trong nhà còn đóng cửa dạy nhau, nhưng mượn tiền người ngoài nếu chậm trể thì bị kêu réo um sùm khó dấu. Khi dự trữ ngoại tệ xuống thấp khiến các doanh nghiệp cần buôn bán với nước ngoài khó đổi tiền đô-la thì họ phải mua ngoại tệ với giá chợ đen khiến tiền nội địa càng thêm mất giá. Tiền cũng có thể bị phá giá để cạnh tranh với các nước khác như trường hợp Việt Nam và Trung Quốc mới xảy ra gần đây. Các nhà đầu tư thấy tiền mất giá thì vội đổi sang đô-la để không bị thiệt thòi, rồi rút tiền về Mỹ hay các nơi an toàn khác như Âu-Nhật dẫn đến tình trạng tư bản tháo chạy gọi là capital flight.

 

Hai nền kinh tế lớn hàng nhì và ba trên thế giới là Trung Quốc và Nhật Bản đều mang nợ khoảng 200% GDP nhưng đa số là nợ trong nước, cộng thêm các khoảng dự trữ ngoại tệ khổng lồ nên nạn tư bản chảy ra nước ngoài không đe dọa thị trường tài chánh đến mức mất kiểm soát giá trị đồng bạc. Nga trước đây tích tụ ngoại tệ nhờ giá dầu tăng vọt nên có thể chống chọi 1-2 năm cho dù đồng rúp đến nay đã rơi giá thê thảm vì dầu hạ giá. Còn lại các nước đang mở mang như Brazil, Argentina, các nước vùng Trung và Đông Nam Á không có khoảng dự trữ lớn trong khi mua bán với Trung Quốc chậm lại nên đang phập phòng không biết tình trạng tư bản tháo chạy có sẽ xảy ra hay không.

 

Đối với cá nhân thì người trưởng thành thường không mượn nợ vì tài sản nhà cửa đã có, nhưng đối với các quốc gia công nghiệp hiện lại mang nhiều nợ hơn các nước đang mở mang. Một phần như tại Nhật dân số già nên nhà nưóc chi ra cho hưu bổng nhiều hơn thu vào từ thuế lợi tức và tiêu thụ; phần khác vì chính sách xã hội quá hậu hỉ như Châu Âu; hay vung tay tiêu xài vì … mượn nợ quá dễ như Hoa Kỳ. Các nước đang phát triển như Trung Quốc hay những quốc gia dầu hỏa vùng Trung Đông gởi tiền cho khối công nghiệp vay mượn, một phần vì họ cần giúp cho thị trường các quốc gia công nghiệp mua hàng hóa xuất cảng do đây là những khách hàng xộp, phần khác bởi tiền giữ trong nước sợ bốc hơi, giống như vợ chồng trẻ sợ tiền để trong nhà mang ra đánh bài nên đem gởi ông hàng xóm nhà giàu cho chắc ăn.

 

Nước mang nợ nhiều nhất thế giới là Hoa Kỳ thì phải xem là… ngoại hạng (exorbitant privilege). Mỹ mượn nợ bằng đô-la nên kẹt lắm in tiền đô-la để trả nên cho Hoa Kỳ vay mượn không thể mất vốn. Ngân Hàng Trung Ương đã in 4000 tỷ USD từ năm 2008 đến nay nhằm vực dậy nền kinh tế, theo lẽ thường lạm phát phải tăng và đô-la mất giá; nhưng ngược lại lạm phát tại Mỹ vẫn dưới 1% còn giá đô-la lại tăng nhanh tức trái hẳn với các quy luật kinh tế nhập môn. Đã có vô số bài viết tranh luận về sự kiện này kể cả trong các cuộc bầu cử Tổng Thống, nhưng thực tế vẫn là thế giới tiếp tục cho Hoa Kỳ mượn với tiền lời rẻ mạt 1%. Cho nên có nhiều kinh tế gia đòi Hoa  Kỳ không nên giảm mà phải tăng nợ, vay mượn nhiều hơn nửa trong khi lãi suất còn thấp nhằm đầu tư vào hạ tầng và thúc đẩy nền kinh tế khi phát triển còn chậm chạp.

 

Để hiểu lập luận này nên mường tượng ra hai cách trả nợ: hoặc bớt tiêu xài thắt lưng buộc bụng trả nợ theo kiểu Hy Lạp, nhưng rồi nghèo lại nghèo thêm; hay cứ mượn thêm nợ để đầu tư, đầu tư tăng giúp thu nhập tăng thì gánh nợ teo lại. Khuấy nước thành hồ hay mượn đầu heo nấu cháo cách nào cũng được cho nên nợ công là một vấn đề vô cùng phức tạp mà các kinh tế gia không bao giờ đồng ý với nhau.

Thursday, September 3, 2015

Nền kinh tế Trung Quốc và ảnh hưởng toàn cầu


Thị trường cổ phiếu và tài chánh quốc tế chấn động mạnh sau khi sàn chứng khoáng Thượng Hải tuột dốc. Sau đó Bắc Kinh phá giá đồng Nhân Dân Tệ trong hai ngày liên tiếp xuống gần 5%. Nền kinh tế Trung Quốc hiện đứng hàng thứ nhì nhưng lại là cổ máy tăng trưởng hàng đầu và cơ xưởng sản xuất cho thế giới trong nhiều năm nên khi hạ cánh sẽ mang lại nhiều hệ lụy dây chuyền, phức tạp và không đồng bộ sang các khu vực kinh tế khác nhau trên thế giới.

 

Xin bắt đầu với nhận xét rằng vòng xoáy khủng hoảng cứ chạy loanh quanh từ Hoa Kỳ sang đến Âu Châu rồi lan ra các quốc gia đang phát triển: hiện tượng này được thấy trong hai thập niên gần đây khi kinh tế  Đức bị khủng hoảng vào những năm 90, tiếp đến khủng hoảng tài chánh Đông Á 1998, sang khủng hoảng ở Hoa Kỳ hai lần vào 2001 và 2008, trở lại Âu Châu 2011, giờ đây đến lược Trung Quốc 2015 (nếu chu kỳ này tiếp tục sẽ đến phiên Bắc Mỹ rơi vào khủng hoảng trong vòng vài năm nửa). Phân tích nguyên nhân nằm ngoài phạm vi bài này, nhưng điểm tích cực nơi các khối kinh tế lớn không khủng hoảng cùng một lúc bằng không thì… đại họa! Ngược lại khía cạnh đáng lo vì các cuộc khủng hoảng ngày càng xảy ra dồn dập, mỗi lần thêm trầm trọng và dai dẳng.

 

Tình trạng suy thoái của Hoa Lục sẽ tác động khác nhau đến Hoa Kỳ, Âu Châu và các nước đang phát triển. Kinh tế Âu-Mỹ (hy vọng) ít bị ảnh hưởng cho dù các sàn cổ phiểu có thể bị suy thoái (bear market) trong một thời gian dài. Lý do vì Hoa Kỳ và Âu Châu bắt đầu phục hồi cho dù tăng trưởng kém hay không tăng trưởng nhưng vẫn có thể phần nào chịu đựng được các cơn địa chấn từ Trung Quốc. Riêng Hoa Kỳ rất tự túc, hàng hoá bán sang Hoa Lục chỉ chiếm 1% của GDP cho nên tác động trực tiếp không nhiều. Ngược lại hậu quả lên sàn chứng khoán rất nặng vì các đại công ty như Apple, GM, Ford của Mỹ,  Mercedes, BMW, Audi của Âu châu đều sản xuất và bán hàng tại Hoa Lục, cổ phiếu trước đây tăng vọt nhờ vào sức mua của thị trường Trung Quốc. Nay nếu người Hoa giảm tiêu thụ vì nước họ đang hạ cánh sẽ ảnh hưởng đến lợi nhuận của các tập đoàn đa quốc gia khiến thị trường cổ phiếu bị tuột dốc. Thêm vào đó giá dầu giảm quá nhanh nên các đại công ty Exxon, Shell, Mobil v.v… thua lổ. Tuy nhiên nguyên nhân chính khiến cổ phiếu mất giá tại Mỹ không phải vì Trung Quốc mà do sàn chứng khoán Hoa Kỳ đã tăng trưởng liên tục 140% trong 6 năm từ 2009-15 nên quá hạn điều chỉnh đã hơn 3 năm, nay đến lúc chín mùi để tự điều chỉnh giá cả.

 

Biến động thị trường xảy ra vì những chuyện không tiên liệu trước: ai cũng biết đến Hy Lạp, thị trường địa ốc cùng nợ xấu ở Hoa Lục, tình trạng suy thoái tại Nga; ít được nhắc đến hơn là Argentina vỡ nợ kỷ thuật, Brazil và Venezuala suy thoái nặng. Nhưng không có chuyên gia nào tiên liệu trước Puerto Rico vỡ nợ; sau đó sàn chứng khoán Thượng Hải tuột dốc; rồi đến Trung Quốc, Việt Nam phá giá tiền, Kazakhstan thả nổi đồng bạc rơi xuống gần 30%. Puerto Rico, Việt Nam hay Kazakhstan là những nền kinh tế nhỏ (giống như Hy Lạp) lẻ ra tác động ít, nhưng chính chuổi sự kiện xảy ra liên tục khiến các nhà đầu tư bối rối không biết rồi sẽ đến phiên nước nào khác vỡ nợ hay suy sụp trong khối đang phát triển (giới tài chánh Mỹ gọi là “wait for next shoe to drop”). Bắc Kinh kềm tỷ giá theo đô-la Mỹ nên từ năm 2010 đến nay Nhân Dân Tệ không còn rẻ nửa, nhiều chuyên viên cho rằng Trung Quốc có thể phá giá thêm 5-10% nếu các biện pháp vừa rồi không đủ mạnh. Cho nên các nhà đầu tư đổi sang đô-la rút tiền về Mỹ cho an toàn trong hoàn cảnh bất ổn nhất là khi Ngân Hàng Trung Ương Hoa Kỳ sắp tăng lãi xuất. Trung Quốc, Nam Hàn có khoảng dự trữ ngoại tệ lớn còn chịu đựng được, nhưng khối các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam sẽ điêu đứng vì phải bán ngoại tệ để giữ giá tiền đồng trong lúc doanh nghiệp lo tích tụ đô la phòng xuống giá thêm nửa, bên cạnh các khoảng nợ đáo hạn phải trả bằng đô la. Tuy lợi thế tiền mất giá giúp cho xuất cảng nhưng chỉ bán sang Hoa Kỳ tăng còn Âu Châu vẫn đang gặp nhiều khó khăn. Thêm vào đó hàng hóa từ Hoa Lục sẽ bán phá giá nếu mậu dịch tại các nước đang phát triển không được kiểm soát chặc chẻ, trong khi nguyên vật liệu bán sang Trung Quốc giảm sút nặng.

 

Nguy hiểm không kém là tình trạng “lạc đạn” – giới tài chánh Hoa Kỳ gọi là “drive-by shooting” - vốn xảy ra cho Indonesia năm 1998 hay Tây-Ban-Nha năm 2011. Hai nước này đều có thanh khoản tương đối vững nhưng vì các nước láng giềng Thái Lan và Hy Lạp suy sụp, các nhà đầu tư sợ lổ soi mói sổ sách để rồi ồ-ạt rút lui khi thấy có vài triệu chứng đáng ngờ. Một nước như Việt Nam vốn mang tì vết vì nợ xấu dễ trở thành nạn nhân của tình trạng này, khi đó ngoại tệ dự trữ phải dùng để chống chọi vất vã ngăn ngừa tháo chạy.

 

Việc cổ phiếu và tiền sụt giá mạnh lẻ ra là hiện tượng bình thường trong thị trường tự do như đã xảy ra (quá) nhiều lần ở Mỹ, nhưng lại không bình thường chút nào tại Hoa Lục. Tính chính đáng của đảng Cộng Sản Trung Quốc thu gọn vào ổn định và tăng trưởng. Nay tăng trưởng chậm tạo ra bất ổn nên Bắc Kinh can thiệp mạnh bạo, trước đây họ rất thành công vào những năm 1998 và 2008 nhưng rồi lại dẫn đến những hậu quả bất lường lộ rõ từ năm 2013, nay đảng cầm quyền liệu có thành công một lần nửa hay không… chẳng ai biết. Các chính quyền Âu-Mỹ-Nhật đều can thiệp ào ạt vào kinh tế nhưng nếu thất bại thì đảng cầm quyền bị thay đổi. Đảng Cộng Sản Trung Quốc không thể thất bại hay bị thay đổi nên trở thành thách thức lớn nhất cho nhân dân Trung Quốc và cho chính Tập Cận Bình.

Sunday, November 9, 2014

Bắc Kinh tấn công mạnh trước kỳ Hội Nghị Thượng Đỉnh Châu Á

Ông Obama đặt nền móng cho chính sách chuyển trục nhưng không hiểu như thế nào mà số ông vô cùng lận đận mỗi lần chuẩn bị công du sang châu Á. Tháng 11 năm nay ông đến khu vực lúc vừa thua trận thảm bại trong kỳ bầu cử năm 2014 khi đối thủ đảng Cộng Hoà thắng lớn tại cả Thượng lẫn Hạ Viện, khiến thế giới và dân Mỹ thắc mắc liệu ông có trở thành Tổng Thống “vịt què” (lame duck) khặp khểnh đi lòng vòng kêu ngoạc ngoạc mà chắng ai thèm quan tâm!  Năm 2013 Obama đã phải hủy bỏ chuyến công du tháng 10 do thương lượng ngân sách giữa Hành Pháp và Lập Pháp bị bế tắt. Tháng 9-2011 chuyến công du Á Châu bị lu mờ vì chiến tranh Do Thái và Palestine trong cùng thời gian. Tháng 3 và tháng 6-2010 ông hoãn viếng thăm Indonesia liên tiếp hai lần để lo vận động cho chương trình bảo hiểm sức khỏe Obamacare, rồi đến vụ nổ nhà máy dầu vùng biển Louisiana.

Trong khi đó thì Trung Quốc tấn công ráo riết về ngoại giao và kinh tế trước mỗi lần họp Thượng Đỉnh nên có mòi sẽ thắng lợi năm nay. Vào tháng 10-2014 Bắc Kinh đã vận động 21 quốc gia (trong số đó có Việt Nam) ký kết thành hình Ngân Hàng Đầu Tư Cơ Sở Hạ Tầng Châu Á (Asian Infrastructure Development Bank) với số vốn ban đầu từ 50-100 tỷ USD khi ra mắt vào năm 2015. Hoa Kỳ chống đối và can ngăn Úc, Nam Hàn và Indonesia không tham dự vì dự án này sẽ trở thành đối thủ của Ngân Hàng Thế Giới (World Bank) và Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế (IMF) do Tây Phương hình thành từ sau Thế Chiến Thứ 2. Nhưng Á Châu hiện đang có nhu cầu 8000 tỷ USD để phát triển hạ tầng, nếu Bắc Kinh mở rộng hầu bao thì không thiếu lý do thu hút chú ý cho dù biết rằng sẽ đi kèm với những điều kiện thuận lợi cho Trung Quốc cũng tương tự như Hoa Kỳ với World Bank và IMF.

Bên cạnh đó Bắc Kinh vận động thành hình Khu Vực Tự Do Mậu Dịch Châu Á Thái Bình Dương (FTAAP) gây khó khăn cho Hiệp Định Đối Tác Kinh Tế Xuyên Thái Bình Dương (TPP) của Hoa Kỳ. Tiến trình thảo luận TPP vốn bị trì trệ nhiều lần vì các đối tác Mỹ, Nhật, Việt Nam, v.v… đều có những thị trường cần được bảo vệ, nay đảng Cộng Hòa nắm đa số trong cả Thượng lẫn Hạ Viện thì các nước lại càng thêm dè dặt e rằng thương thảo xong với Hành Pháp Obama thì lại bị Quốc Hội Cộng Hòa chống đối bác bỏ! Hơn thế Trung Quốc dù phát triển chậm đi nhưng nếu không suy sụp vẫn là đối tác thương mại quan trọng nhất trong khu vực qua mặt Hoa Kỳ với tương lai không xa.

Về ngoại giao Bắc Kinh đạt được thắng lợi quan trọng khi Nhật có vẽ đã nhượng bộ công nhận giữa hai nước có tranh chấp về chủ quyền của quần đảo Senkaku / Điếu Ngư để có được cuộc gặp bên lề Hội Nghị Thượng Đỉnh APEC giữa Chủ Tịch Tập Cận Bình và Thủ Tướng Abe. Dù ngôn ngữ ngoại giao rất tế nhị chỉ ghi nhận “bất đồng” nhưng thực chất như thế này cho dễ hiểu: từ trước đến giờ đất trong vườn sau nhà là của tôi nên chẳng cần tranh cãi với ai gì cả, vì rành rành cái đó là của tôi; nay phải nhìn nhận rằng anh láng giềng cũng đang dòm ngó muốn lấn đất, tức là thế thương thuyết bị lấn cấn yếu đi rất nhiều. Nguyên nhân nhượng bộ có lẽ một phần vì kinh tế Nhật đang kiệt quệ - hai tuần trước đây Ngân Hàng Trung Ương lại phải tung ra một gói kích cầu khổng lồ - nên lúc này Nhật đang cần đến thị trường Trung Quốc hơn bao giờ hết.

Thực tế là các nước châu Á đều đi nước đôi tức vừa muốn buôn bán với Trung Quốc nhưng đồng thời cần Hoa Kỳ che chở về an ninh để không bị bắt nạt quá đáng. Nhưng kế hoạch chuyển trục của Mỹ bị chê là quá chậm trong khi Hoa Kỳ đang phải lung túng đối phó trên ba mặt trận Ukraine – Afghanistan – ISIS. Đảng Cộng Hòa nay thắng cử nên dự trù Thượng Nghị Sĩ John McCaine sẽ nắm chức vụ Chủ Tịch Ủy Ban Quốc Phòng, trong khi có tin đồn Bộ Trưởng Quốc Phòng Chuck Hagel sắp bị mất chức đành phải hủy bỏ chuyến công du sang Việt Nam. Ông McCaine đã từng vận động thành công để bán vũ khí sát thương cho Việt Nam, nhưng ông đồng thời lại đòi Mỹ phải viện trợ quân sự cho Ukraine, dội bom Syria, đem quân đánh ISIS v.v… nghĩa là cứ đánh nhau từ Đông sang Tây đến khi hết tiền thì vay nợ của Tàu để đánh tiếp mà không rõ ông có đặt trọng tâm nơi khu vực nào hay không.


Nhật, Nam Hàn, Đài Loan phần nào an tâm về sự bảo đảm của Hoa Kỳ vì chính họ là những nước giàu mạnh nên Mỹ không thể bỏ rơi. Phi Luật Tân yếu nhưng nằm xa ngoài biển nên Mỹ muốn bảo vệ cũng không khó. Indonesia và Mã Lai đông dân Hồi Giáo lại ở xa không dễ bắt nạt. Chỉ có Việt Nam vừa nằm sát Trung Quốc, trơ trọi lại què quặt nên bắt buộc phải tìm chổ dựa nơi Mỹ cho dù biết rằng Hoa Kỳ không đứng thế mạnh nên khó lòng cạnh tranh với Hoa Lục trên địa bàn Đông Dương, giữa hai nước lại không thể nào trở thành đồng minh và Hà Nội cũng không thể biết sẽ được Hoa Kỳ hậu thuẩn đến mức nào. Lý do chính vì Việt Nam trễ nải 25 năm mê ngủ trước tham vọng của Trung Quốc, lại trì trệ không phát triển nên nay dù vội vã tìm cái phao cứu vớt nhưng vẫn là miếng mồi ngon của Bắc Kinh.

Tuesday, April 1, 2014

McDonald’s, Ukraine và Việt Nam

Công ty thức ăn nhanh McDonald’s mở nhà hàng đầu tiên tại Việt Nam vào tháng 02-2014. McDonald’s vốn được xem như biểu tượng của nước Mỹ nên làm nảy sinh ra ba giai thoại thú vị liên quan đến trào lưu toàn cầu hoá, chính sách tiền tệ và đầu tư địa ốc (!) tuy hài hước nhưng lại trở thành đề tài tranh luận của không ít học giả quốc tế – nay xin được kể lại để đọc giả trong và ngoài nước nghe chơi.
Giai thoại thứ nhất do nhà bình luận nổi tiếng Thomas Friedman [1] của tờ New York Times đề xuất vào năm 1996 rằng không hề có chiến tranh giữa hai nước cùng có nhà hàng McDonald’s [2]. Giả thuyết tiếu lâm này dựa trên quan sát rằng công ty McDonald’s đầu tư thường vào giai đoạn nền kinh tế của một quốc gia tiến vào bước ngoặc toàn cầu hoá, mở cánh cửa thương mại với thế giới và xây dựng được tầng lớp trung lưu – nên nước này sẽ gánh chịu nhiều thiệt hại hơn là lợi ích khi sanh sự với các lân bang. Luận cứ Friedman đứng vững gần 10 năm cho đến 2008 khi Nga tấn công vào Georgia, rồi nay lại bị nước Nga phá hỏng lần nữa khi tiến chiếm vùng đất Crimea của Ukraine vào năm 2014 (cả ba quốc gia đều có nhà hàng McDonald’s).
Thì ra toàn cầu hoá là mô hình do Hoa Kỳ dựng ra, các nước lớn như Nga nhờ vào đó phát triển đến mức độ hùng mạnh thì lại sanh thêm tham vọng bành trướng nên không ngần ngại vi phạm ra ngoài biên giới. Câu hỏi đặt ra là nay cả Trung Quốc lẩn Việt Nam đều có McDonald’s nhưng liệu Hoa Lục có sẽ tấn công biên giới và biển đảo khi nền kinh tế đã trưởng thành nên không còn sợ bị thế giới phong tỏa?
Giai thoại thứ nhì do tuần báo The Economist đưa ra vào năm 1986 khi dùng giá bán chiếc bánh Big Mac của nhà hàng McDonald’s trên nhiều quốc gia để định giá trị đồng tiền của nước này so với đô-la Mỹ [3]. Tiêu chuẩn đưa ra dựa trên giá thành của Big Mac gần như giống nhau trên khắp thế giới, nhưng giá bán chênh lệch là do nhà nước ép giá đồng bạc trong nước. Nghe có vẻ khôi hài nhưng kết quả số liệu lại không xa thực tế, và nếu dựa trên giá bán Big Mac thì tiền Việt Nam hiện bị hạ 38% (tức 1 USD đáng lẽ chỉ đổi 12975 VND thay vì 21090 VND như hiện nay) tức là dân chúng phải chịu thiệt hại cho nhà nước cứu vãn nền kinh tế, ngân hàng và các công ty quốc doanh.
Giai thoại cuối cùng – nhưng người viết chỉ nghe kể lại mà không có nguồn dẫn giải – khi nhà sáng lập McDonald’s thuyết trình tại đại học Harvard đã hỏi các sinh viên rằng đầu tư chính của công ty nhắm vào thị trường nào? Mọi người đều bỡ ngỡ trước câu hỏi lạ lùng này cho đến khi một sinh viên dè dặt trả lời rằng mục tiêu ắt hẳn bán thức ăn nhanh. Nhà sáng lập lắc đầu và cho biết thành công của công ty McDonald’s chính trong ngành ĐỊA ỐC! Thật vậy, nếu độc giả để ý quan sát thì các nhà hàng McDonald’s đều có mặt nơi những khu đất giá trị nhất trên khắp các thị tứ toàn cầu.
Nay nghe đồn công ty McDonald’s sẽ mở hàng trăm cửa tiệm tại Việt Nam thì việc chọn con rể của Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng làm Tổng Giám Đốc Điều Hành chắc hẳn sẽ tạo nhiều thuận lợi khi mua bán đất đai. Kính chúc gia đình Thủ Tướng ngày thêm giàu sang phú quý.

Sunday, March 3, 2013

Hoa Kỳ cần lạm phát?


Lạm phát là nổi ám ảnh của hầu hết các quốc gia trên thế giới – cho dù Mỹ có thế sẽ cho tăng lạm phát để giảm gánh nợ công.

Muốn hiểu điều này chỉ cần nhớ rằng Mỹ có được lợi thế duy nhất là đi mượn nợ bằng tiền Đô-La, nên kẹt lắm họ vẫn có thể in bạc để trả nợ (thay vì phải quịt nợ). Trái lại một nước như Việt Nam phải đi vay bằng Euro hay Mỹ Kim, nếu tiền đồng mất giá (lạm phát tăng) càng khiến gánh nợ nặng thêm; cọng vào đó dân chúng đã không đủ sống nay phải cong lưng chạy đua với bão giá.

Hoa Kỳ hiện thiếu khoảng 16500 tỷ USD nhưng lạm phát ở mức rất thấp là 1.5%. Nếu lạm phát tăng lên 3.5% thì giá trị nợ tự động thụt xuống  330 tỷ USD (16500 x 3%)

Chẳng những thế, Mỹ Kim mất giá sẽ giúp hàng xuất khẩu của Hoa Kỳ trở nên rẻ hơn. Hàng hoá nhập cảng từ nước ngoài tăng giá khiến mức tiêu thụ bị giảm giúp cán cân mậu dịch trở nên thăng bằng. Các công ty Mỹ lại có nhiều đầu tư ra ngoại quốc nên cũng mạnh hơn vì giá trị tài sản tăng.

Các nước như Trung Quốc, Việt Nam v.v… vốn kềm hối đoái so với đồng Đô-La sẽ gặp khó khăn vì xuất cảng sẽ lổ trong lúc tiền nhập cảng nhiên vật liệu, v.v... ngày càng cao vì trả bằng Đô-La. Còn tăng tỷ giá thì hàng hoá xuất cảng trở nên khó bán vì đắt đỏ hơn.

Mỹ sợ lạm phát vì chi phí cho xăng dầu sẽ tăng vọt ảnh hưởng đến nền kinh tế và đời sống của dân chúng. Nhưng nay Hoa Kỳ nhờ vào kỷ thuật khai thác đá phiến đang dần trở thành nước xuất cảng khí đốt và dầu thô, giá dầu tăng lại giúp nâng nền kinh tế thay vì tạo khủng hoảng như vào những năm 1972 và 2007.

Dĩ nhiên là mọi chuyện không phải đều êm đẹp khi lạm phát tăng. Thành phần lổ lả nhất là những ai ký thác trong Ngân Hàng vì tiền bị mất giá - như lớp hưu trí. Giới tiêu thụ cũng phải bớt tiêu xài vì hàng hoá tăng vọt nhanh hơn lương bổng, nhưng dân Mỹ bớt xa xỉ vẫn là điều tốt cho Hoa Kỳ (và nguy hiểm cho Trung Quốc, Việt Nam, v.v…)

Các đối thủ  lẫn đồng minh như Nhật – Anh – Nga – Hoa sẽ rất bực bội vì họ đều là chủ nợ trong khi tiền cho Mỹ vay bị mất giá. Thị trường xuất khẩu lại phải cạnh tranh với Hoa Kỳ vào lúc mà chính nền kinh tế của họ cũng không vững vàng. Mỹ sẽ mất uy tín với đồng minh, nhưng nói cho cùng uy tín nào cũng không thay thế được giải quyết nợ để phục hồi một nền kinh tế và quốc phòng vững mạnh.

Cho nên sẽ không lấy làm lạ nếu trong 2-3 năm nửa Hoa Kỳ sẽ cho tăng lạm phát. Việc Mỹ đi vay tiền bằng đô-la là một lợi thế vô cùng lớn khiến cả thế giới tức giận bị chơi gác nhưng vẫn chưa có cách gì trả đủa.

Câu hỏi cuối cùng với Hoa Kỳ là con nợ lớn nhất thế giới, điểm tín dụng xuống dần không còn AAA nhưng tại sao vẫn còn có nước cho vay mượn với lãi suất vô cùng thấp? Lý do nơi các nền kinh tế của Âu Châu và Nhật vẫn èo uột hơn cả Mỹ, còn Trung Quốc tiếp tục giới hạn lưu lượng để đồng Nhân Dân Tệ không bị áp lực của thị trường tự do. Cho nên ghét nhưng vẫn phải cho Mỹ vay tiền dù biết rằng đồng Đô-La sắp mất giá.



Sunday, December 2, 2012

Liệu kinh tế Việt Nam có sẽ tăng trưởng trên 5% trong 10 năm tới?


Nhiều người tin rằng Việt Nam sẽ tếp tục phát triển nhanh chóng trở lại sau khi cuộc khủng hoảng kinh tế chấm dứt. Cách nhìn này dựa trên nhiều điều kiện thuận lợi khi Việt Nam còn là một quốc gia  đang mở mang với tài nguyên dồi dào và giá nhân công rẻ. Tuy nhiên nếu theo kinh nghiệm của khối các nước chậm tiến với những ưu điểm tương tự thì Việt Nam đã phát triển khoảng 7% trong 20 năm qua, và sác xuất để đà tăng trưởng tiếp tục trên 5% sang thập niên thứ ba chỉ là dưới 10%. 

Vào những năm 1960 Miến Điện, Phi Luật Tân và Sri Lanka từng được xem là những con rồng tương lai; rồI đến phiên Pakistan và Iraq vào thập niên 70 – nhưng giờ này lợi tức đầu người tại các nước này khựng lại trong khoảng từ 800–3500 USD tức là dưới mức bình quân của thu nhập trung bình (so với Việt Nam hiện là 1400 USD vào năm 2011).

Từ 1950 chỉ 1/3 trong số các quốc gia chậm tiến giữ được mức phát triển trên 5% trong vòng 10 năm, 1/4 trong 20 năm và 1/10 trong 30 năm. Một số đông bị rơi vào điều mà các chuyên gia gọi là “bẩy sập của mức thu nhập trung bình – middle income trap”[1],  tức là sau khi tăng trưởng ngoạn mục vào những năm đầu lại rơi vào các mâu thuẩn nội tại và đứng khựng lại trong nhiều thập niên liên tiếp.  Chỉ vài nước rất ít vươn lên được vào khối các quốc gia phát triển như Singapore, Nam Hàn, Đài Loan, Hồng Kông (cùng vài nước vùng vịnh Ba Tư vốn may mắn giàu tài nguyên dầu hoả),  đa số còn lại bị trì trệ trong suốt một thời gian dài mặc dù có nhiều lợi thế về tài nguyên và giá nhân công rẻ giống như Việt Nam.

Ổn định xả hội và mở cửa giao thương với nước ngoài là hai yếu tố không thể thiếu - xem trường hợp Miến Điện và Iraq bị khủng hoảng chính trị và phong toả kinh tế trong nhiều thập niên. Nhưng bên cạnh đó đầu tư phải được kiểm soát hữu hiệu, vì nếu vay mượn quá nhiều hay chi tiêu cẩu thả vào các khu vực công-tư đến khi tín dụng bị siết chặt cũng mất thời gian rất lâu mới phục hồi.

Đầu tư nước ngoài và xuất cảng nhờ giá nhân công rẻ chỉ là lợi thế ban đầu để đẩy thu nhập bình quân tiến vào ngưỡng đầu tiên của mức thu nhập trung bình (1000 USD). Nhưng nếu trong thời gian này không xây dựng kịp nền giáo dục đào tạo tầng lớp chuyên viên giỏi thì mức tiến sẽ khựng lại. Đây là một trong các nan đề chính yếu và lâu dài của Việt Nam.

Môi trường đầu tư và kinh doanh lẻ ra phải ngày càng được tổ chức thuận lợi để không bị cản trở bởi nạn tham nhũng và thủ tục hành chánh rườm rà, thì trái lại trong nhiều quốc gia các tệ trạng này lại gia tăng theo đà phát triển ban đầu tạo ra một cái thắng hãm lại đà phát triển.

Thành quả tăng trưởng hiện không khả quan ngay trong các nước nổi bật nhất thuộc khối BRIC (Brazil-Russia-India-China): kể từ năm 2008 Ba Tây rơi xuống từ 4.5% còn 2%, Nga 7% xuống 3.5%, Ấn Độ 9% còn 6%, Trung Quốc 10% còn 7.5%

Bên cạnh các yếu tố phổ quát nói trên Việt Nam còn phải chiụ nhiều áp lực đặc thù của thời đại. Lần đầu tiên kể từ sau thế chiến thứ hai cả hai nền kinh tế của Âu và Mỹ đều chậm lại kéo theo sức đầu tư và mức tiêu thụ giảm sút. Trong khi đó các tiến bộ kỷ thuật mở ra phương tiện liên lạc và giao thông thuận lợi đồng đều trên toàn thế giới. Vì thế khối các nước đang mở mang đều phải cạnh tranh ráo riết lẫn nhau để thu hút nguồn vốn và bán sản phẩm cho hai thị trường ngày càng thu hẹp này. Riêng Việt Nam phải nằm cạnh Trung Quốc vốn là vựa sản xuất khổng lồ trên thế giới, nên hàng hoá và mức thặng dư mậu dịch dễ dàng đè bẹp nền kinh tế và các công nghiệp đang trổi dậy của đất nước.

Mức độ tăng trưởng cho dù bị khựng lại nhưng sẽ tác động nhiều vào đa số quần chúng hơn là đến thiểu số ưu tú cùng các nhóm đặc quyền đặc lợi. Những nguyên nhân khiến khoảng cách giàu nghèo ngày càng sâu rộng cũng chính là các tệ đoan ngăn trở phát triển – cho đến khi có đột biến xảy ra để giải quyết các bế tắc trong xã hội.

***

[1] Lợi tức đầu người tại các quốc gia phát triển là từ 12000 USD trở lên, so với các nước chưa mở mang nằm dưới mức 1000 USD. Khoảng giữa từ 1000-12000 USD được gọi là mức thu nhập trung bình. Một nước sập bẩy của mức thu nhập trung bình (middle income trap) khi đạt đến mức này rồi sau đó vì những lý do cấu trúc không thể tiến xa hơn nửa/ 

Sunday, September 9, 2012

Ngân hàng và niềm tin


Trải qua những xáo trộn gần đây trong hệ thống ngân hàng Việt Nam người viết nhận thấy quần chúng có hai lối suy nghĩ khá phổ thông: thứ nhất nhà nước sẽ làm mọi cách để hệ thống tài chánh không bị sụp đổ, nếu không hậu quả sẽ vô cùng lớn về xã hội và chính trị; thứ nhì vụ này chỉ do giữa do các vây cánh choảng nhau nhưng rồi lâu dài đâu sẽ vào đó nên không kỳ vọng gì sẽ có cải tổ thực sự.

Tâm lý nói trên thể hiện một mối nguy tiềm tàng mà nhiều chuyên viên gọi là “moral hazard”, tạm dịch rủi ro đạo đức trong nền kinh tế [1]. Điều này muốn nói thị trường tự do phải dựa trên một tiêu chuẩn duy nhất là các doanh nghiệp đều bình đẳng, thành công phải nhờ nơi công việc hữu hiệu và sáng tạo, còn thất bại do cẩu thả hay thụt lùi phải cho đào thải mà nhà nước không thể chen vào can thiệp. Nếu giúp đỡ một lần tức là tạo ra tiền lệ xấu khiến thị trường trở nên ỷ lại, tìm sự che chở bè phái và bóp chết cạnh tranh. 

Dĩ nhiên đây là lập luận trên lý thuyết kinh tế, còn trong thực tế chẳng một chính quyền nào dám khoanh tay đứng yên nhìn một hệ thống huyết mạch như ngân hàng rơi vào khủng hoảng mà không can thiệp. Tại Âu-Mỹ nhà nước đã bỏ hàng ngàn tỷ USD tái cấp vốn cho các ngân hàng vốn cho vay bê bối, đồng thời mua hay bảo đảm cho nợ xấu để ổn định thị trường.

Nếu ví von giữa Việt Nam với Hoa Kỳ: so sánh hai tập đoàn Vinasin/Vinalines với đại công ty Enron [2] nay đều khánh tận; Dương Chí Dũng giận lận giống CEO Kenneith Lay [3]; Bầu Kiên lường gạt kiểu Maddoff [4]; nhà nước tung tiền vào ACB cũng như Mỹ đã cứu cấp cho các công ty “quá lớn nên không sụp đổ được” (too big to fail) như Citibank, AIG, Fannie Mae & Freddie Mac. Cả hai nền kinh tế điêu đứng, vô số người thất nghiệp hay thua lổ, thế mà ở cả hai nước con số thủ phạm bị bắt bỏ tù chỉ đếm được trên đầu ngón tay! Điều này cho thấy lòng tham nơi nào cũng có, càng văn minh tiến bộ thì thủ đoạn thêm tinh vi và hậu quả càng trầm trọng.

Dân Mỹ đã phản ứng qua hai phong trào Tea Party (cánh hữu) và Chiếm Phố Wall (cánh tả). Lập trường chính trị của hai bên khác nhau rất nhiều nhưng tựu trung vẫn phản ảnh nổi phẩn uất của quần chúng: nhà nước lạm dụng công quỹ, đánh xâu cao thuế nặng; các doanh nghiệp lớn được cứu sống, còn những công ty tư nhân nhỏ và trung bình bị bỏ mặt, dân chúng thua lổ mất nhà cửa chẳng ai giúp đỡ; nhà giàu có quyền thế và vây cánh thì lợi dụng lạm bậy.

Đảng Tea Party dù chỉ mới vài năm nhưng đã là một sức mạnh vô cùng quan trọng trong chính trường Mỹ: họ đã đem hàng chục Dân Biểu Nghị Sĩ vào Quốc Hội, và đưa ra hai ứng cử viên Phó Tổng Thống của đảng Cộng Hoà là bà Sarah Palin (2008) và Paul Ryan (2012). Phong trào Chiếm Phố Wall hiện lắng động nhưng vẫn có thể bùng nổ trở lại nếu tình trạng thất nghiệp không sớm cải thiện.

Nói một cách khác, sau cơn khủng hoảng tài chánh người dân Mỹ nhào vào sinh hoạt chính trị để đòi cải tổ chớ không thụ động chờ giới cầm quyền và các phe phái lợi ích quyết định thay cho mình. Báo chí theo dõi tường trình nhà nước và doanh nghiệp có đang chỉnh đốn hay chẳng làm gì cả. Tiến trình cải tổ chậm chạp vì tính cách phức tạp và quyền lợi đối nghịch của nhiều thành phần xã hội, nhưng nếu không bị quần chúng thúc đẩy thì “đấm đá nhau nhiều ngày rồi đâu cũng vào đấy”. Đảng phái nào không đưa ra chương trình hành động tốt thì sẽ bị dân chúng bỏ phiếu cho lui vào hậu trường trong kỳ bầu cử tháng 11 tới đây, còn các ứng cử viên hứa hẹn nhiều nhưng không thực hiện sẽ bị ghi sổ trong lần sau.

Có lẻ chúng ta cũng nên để ý đến bài học này của Mỹ.

***

[1] Manias, panics, and crashes : a history of financial crises – tác giả  Kindleberger

Monday, July 16, 2012

Áp lực kinh tế từ Trung Quốc


Nhật báo New York Times số ngày 8 tháng 7 năm 2012 đăng tin Thủ Tướng Ôn Gia Bảo thúc dục các doanh nghiệp Trung Quốc tăng cường xuất khẩu sang Đông Nam Á, Nam Á và Trung Á để bù đắp các lổ trống do khủng hoảng kinh tế tại Âu-Mỹ mang đến [1].

Người Mỹ thường nói chính sách ngoại thương của Hoa Lục là “poor thy neighbour” tức trục lợi làm giàu trên sự nghèo khó của các nước bạn. Nay chủ trương này đã do chính Thủ Tướng Trung Quốc công khai nhắm vào những lân bang thì nhà nước Việt Nam nhất thiết phải có biện pháp bảo vệ nền kinh tế quốc gia.

Từ lâu Hoa Lục đem các mặt, hàng tốt sang bán cho Âu-Mỹ, phần thặng dư hoặc phẩm chất kém, dối trá thì đổ tràn ngập vào Việt - Miên - Lào. Nhiều doanh nghiệp trong nước vốn đang chật vật vì lãi xuất quá cao sẽ không cạnh tranh nổi và bị phá sản khiến công nhân viên mất công ăn việc làm phải trở về quê, tạo cơ hội cho lái buôn người Hoa khai thác lao động và ép giá nông sản. Người tiêu thụ sẽ thêm nặng mối lo phân biệt giữa các sản phẩm tốt và an toàn với những mặt hàng giả và độc hại.

Mậu dịch giữa hai nước Việt-Trung vốn thiếu cân đối nên nhà nước nhất thiết phải đòi hỏi có những cuộc đối thoại công khai nhằm đạt được những biện pháp chấn chỉnh trên nhiều khía cạnh:

1.    Giới hạn lượng hàng hoá nhập cảng không cần thiết để giảm bớt thâm thủng hiện ở mức khoảng 10 tỷ USD mỗi năm. Chúng ta không cần đòi Hoa Lục tăng nhập cảng từ Việt Nam vì thực tế là họ đang thu mua ồ ạt các nông ngư sản và tài nguyên thiên nhiên, nên nâng con số này lên trong lúc chưa biết làm thế nào để phát triển bền vững chỉ sớm khiến đất nước nghèo đi.
2.    Việt Nam cần tăng cường kiểm soát gắt gao chất lượng hàng nhập cảng từ Hoa Lục (giống như họ đã tạo khó khăn cho chuối Phi Luật Tân trong tháng vừa qua); khuyến khích thông tin rộng rải các mặt hàng kém chất lượng hay độc hại vốn làm hao tổn hàng ngàn tỷ đồng cho nền kinh tế và là một gánh nặng cho các dịch vụ y tế trong nước.
3.    Việt-Trung cần phải hợp tác ngăn chận tình trạng buôn lậu vốn công khai và ồ ạt nơi các vùng biên giới
4.    Việt-Trung cần phải có biện pháp kiểm soát và trục xuất lao động bất hợp pháp sang hai nước
5.    Việt Nam cần phải tổ chức đấu thầu công khai và minh bạch - với cơ chế giám sát độc lập - để tạo cơ hội đồng đều cho những doanh nghiệp Hoa-Âu-Mỹ-Nhật cùng các công ty nội địa, đồng thời bảo đảm lợi ích lâu dài cho các công trình công cộng.
6.    Nhà nước phải theo dõi, ngăn chận và trừng phạt nghiêm khắc các lái buôn thổi ra các cơn bảo giá giả tạo với mưu đồ phá hoại ngành nông - điển hình qua phong trào mua bán ốc sên, móng trâu, giá dừa, v.v….để bảo vệ quyền lợi sinh nhai cho dân quê.

Mối quan hệ Việt-Trung mang nhiều bất đồng sâu sắc về kinh tế, xã hội và lãnh thổ. Hoàng Sa - Trường Sa là các điểm tranh chấp nóng, trong lúc kinh tế và mậu dịch là toàn diện vì ảnh hưởng trực tiếp và lâu dài đến đời sống của từng người dân và nền độc lập tự chủ của đất nước.  Đây là một vấn đề thiết thực và cấp bách cần có sự quan tâm của mọi tầng lớp dân chúng và trí thức trong và ngoài nước.

***

[1] Chinese Premier Urges Action to Spur Economy – New York Times 7/8/2012